Chương 1: Những van dé ly luận về dich vu logistics và pháp luật về dich vu logistics Chương 2: Thực trạng pháp luật về dich vu logistics ở Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về dich vu logistics ở Việt Nam CHUONG1 NHUNG VAN DE LY LUẬN VE DỊCH VU LOGISTICS VA PHAP LUAT VE DICH VU LOGISTICS 11. Khaiquat vé dich vu logjstics 1. Khai niém dich vu logistics Về mặt lich sử, thuật ngữ logistics bắt nguén từ các cuộc chiến tranh cô đại của dé chế Hy Lap và La Mã. Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cap và phân phdi vũ khí và nhu yêu phẩm, đâm bao điều kiện cho quân sỹ hành quân an toản từ bản doanh đến một vị trí khác.
Công việc “hậu can” nay có ý nghĩa sông còn tới cục điện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguôn cung ứng của mình vả tim cách triệt phá nguôn cung ứng của đối phương. Quá trình tác nghiệp đó dân hình thành. một hệ thông ma sau nảy goi là quan ly logistics. Trong thé chiến thứ hai, vai trò của “logistics” cảng được khang định.
Đội quân hậu cân của quân đội Mỹ và đông minh tỏ ra có hiéu quả hơn của quân đội Đức. Quân Mỹ đã đâm bao cung cấp vũ khí, đạn được, vả quân nhu đúng địa điểm, đúng thời gian, bằng những phương thức tôi ưu. Nhờ phát huy ưu thé về công tac hậu can ma Mỹ va đông minh đã nhiêu lần chiêm uu thé trong cuộc chiến tranh. Sau này, những giải pháp logistics trên chiến trường đã được áp dung rông rai trên nhiêu lĩnh vực khác nhau.
Cùng với sư phát triển của lực lượng sản xuất và sự bùng nô của cuộc cách mạng khoa hoc kỹ thuật trên thé giới, khi khôi lượng hang hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày cảng nhiêu ma khoăng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh về quan ly hàng tôn kho, téc độ giao hang, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên liệu và bán thành phẩm. từ đó logistics được áp dung sang cả lĩnh vực kinh tế, lan truyền khắp các quc gia trên thê giới và trở thành thuật ngữ chuyên ngành để chỉ một hoạt động thương mại đặc thù. Đề phát triển, nhiều mô hình đã được áp dụng, như mô hình Jist-in-Time (JIT) (cung ứng vật tư, hang hóa theo nhu cau thật sự của khách hang trong thời gian ngắn nhật, giảm thiểu chi phí lưu kho); mô hình § Toyota Production System — TPS (tập trung vảo sẵn xuất liên tục một sản phẩm), mô hình QR và ECR.? Cho đến nay, logistics đã chứng minh được tâm quan trong đối với nên kinh tê, trở thành một hoạt động không thé thiểu, đặc biệt trong giao thương quốc tế. Hiện nay, có rat nhiều cách định nghĩa về thuật ngữ“logistics”, được xây dựng trên từng góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau.
Dưới góc độ pháp lý, có những cách định nghĩa logistics như sau trên thé giới: Theo Hội đông chuyên gia quản lí chuỗi cung ứng Hoa Ky - 1988: “Logistics là quá trình lập ké hoạch, thực hiện và kiêm soát các thi tue cho việc vận chuyén hiệu quả và lun trữ hàng hóa bao gồm cả các dich vụ và thông tin liên quan từ điêm xuất xứ đến điểm tiêu thu cho các mục đích phù hợp với yêu cau cha khách hàng và bao gồm đầu vào, đầu ra, chuyén động bên trong và bên ngoài “3 Xét từ khia cạnh quản trị các chuỗi cung ứng: “Logistics ia một bộ phân cẩm thành hoạt động của chuỗi cung ứng, bao gồm việc lên kê hoạch và kiêm soát hiệu qua đồng chay của hàng hóa theo cả hat chiều từ điểm sản xuất đến diém tiêu tìm theo yêu cầu của khách hàng ”.* Theo quan điểm của WTO, logistics được định nghĩa la chuối cung ứng dịch vụ, bao gồm lập kế hoạch, thực hiện vả kiểm soát sự dich chuyển va lưu kho hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hang’. Như vay, theo thông lệ chung, logistics được hiểu là một chuối các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tô tạo nên sản phẩm, từ việc nhập nguyên liệu đâu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuôi cùng Trong khi đó ở Việt Nam, khải niệm dịch vụ logistics được quy định khá rổ rang trong Luật Thương mại 2005 va một số Doin Thị Hing Vin 2010), Logistics - Ning vấn để cơ ‘Deny Nhà xuất bin Lao động — 4 héi,tr. ` Council of Supply Chain Managennent Professionals, Sigply chean management terms and glossary, 2013 eres Handbook,A practical guide for the simply chammanagement of heath commodities“, USAID Š Bai Thái Hà (2012), Php luật Việt Nem vé anh doanh địch vic logistics, tận vin thạc sỹ hật học, Trường Daihoc Luật Ha Nội,tr. 7 9 nghị định, thông tư liên quan.
Xét về khuôn khô pháp lý cho hoạt động dịch vụ logistics tai Việt Nam thì Luật Thương mại 2005 (sửa đôi bd sung năm 2017 và năm 2019) và Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy đính về kinh doanh dich vụ logistics là hai văn bản pháp luật quy định chung nhất va cơ bản nhất về hoạt động logistics hiện nay. Về định nghĩa dich vu logistics, Điều 233 Luật Thương mai 2005 quy định như sau: “Dich vu logistics là hoạt động thương mai, theo dé thương nhân tổ chute thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng. vận cim)ên. ìưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hãi quan, các tìm tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng đóng gói bao bì, git ký mã hiêu, giao hàng hoặc sử dụng các dich vụ khác liên quan đến hàng hóa theo sự thông nhất théa thuận trước với khách hàng đề hướng thù lao”.
Như vây, dưới góc độ pháp lý, định nghĩa dịch vu logistics bao gồm các yêu tô sau: (i) 1a hoạt đông thương mại; (ii) có thể là một dich vu đơn lẽ hoặc là một chuối các dich vụ giao nhận hang hóa như: lam thủ tục các giây tờ, tô chức vận tải, bao bi đóng goi, ghi ký nhấn hiệu, lưu kho, lưu bai, phan phát hàng hóa (nguyên liêu hay thành phẩm) tới khách hàng hoặc dịch vụ khác có liên quan đến hang hóa theo théa thuận với khách hang: (iii) thương nhân kiêm lợi từ hoạt động thương mại nay. Đặc diém của địch vịt logistics Dich vu logistics có các đặc điểm cơ bản sau Thứ nhất, chủ thé trong quan hệ kinh doanh dich vu logistics gồm hai bên: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng. Thương nhân kinh doanh dịch vu logistics sẽ phải đáp ứng một sd yêu cau của pháp luật dé có thé thực hiện hoạt động linh doanh dịch vu logistics, ví dụ như điêu kiên về đăng ký kinh doanh dich vu logistics. Trong khi đó, khách hàng là những chủ thé có nhu cau sử dung dịch vu logistics.
Ở đây, khách hang là tô chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng một số hoặc toản bộ dich vụ thuộc chuỗi dịch vu logistics. “Khdch hàng có thể là thương nhân hoặc không phải ia thương nhân. Khách hàng của dich vu iogistics cỏ thé là citi sở hữu hàng hóa hoặc khong 10 phải là chủ sở hiểu hàng hoa Trong một số trường hop, khách hàng của dich vu logistics là đại điện của chủ sở hit hàng hoa được chủ sở hia hàng hóa ty thác thực hiện việc giao nhân hàng hóa ”Š Thứ hai, dich vu logistics là tổ hop các hoạt đông liên tiếp nhau, có tính xuyên suốt cả quá trình. Về bản chất, logistics là một quá trình, điều đó có nghĩa logistics không phải là một hoạt đông riêng lễ ma la một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động qua lại với nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quan lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện Do đó, logistics xuyên suốt cả quá trình, từ giai đoạn quản lý nguyên liệu đâu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuôi cùng.
Tint ba, logistics 1a dich vụ thiết yếu hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp. Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt đông của doanh nghiệp, ngay cả khi sẵn phẩm đã được rời khỏi dây chuyên sản xuât của nhà máy và dén tới tay người tiêu dung cuối củng Ngay từ các yếu tô đâu vào như máy móc dé vận hành, nguyên vật liệu sản xuat. logistics đã gắn liên với hoạt động của doanh nghiệp, xuyên suốt dây chuyên sản xuất, logistics xuất hiện trong từng bước quy trình để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kiểm soát, điều phôi va quan lý dong lưu trữ, vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm. Sau đó, logistics còn xuất hiện ở giai đoan lưu kho, đóng gói va phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng.
Do vậy, có thé thay sự gắn bó và thiết yêu của hoạt động logistics đôi với hoạt động của doanh nghiệp va vai trò hỗ tro quan trong của nó tới doanh nghiệp. Thứ tir, logistics là sự phat triển cao hơn, hoản chỉnh và toàn điện hơn của dịch vụ giao nhận, vận tải hàng hóa. Cùng với sự phát triển của mình, logistics đã làm da dang hóa khái tiệm giao nhận, vận tải truyền thong. Từ thời sơ khai, bên dich vu chỉ thay mặt khách hang dé vận chuyển, giao nhận hang © Nguyễn Viết Tý, Nguyễn Thị Dung (2020), Giáo minh Luật Thương wai Việt Nem, Tập IL Nhà.
Tư pháp, Trường Daihoc Luật Ha Nội tr. Sau đó, dịch vụ nảy đã phát triển lên những mức độ cao hơn, từ chỗ chỉ thay mặt khách hang đề thực hiên một số dich vụ rời rac như đặt chỗ trên tau, đóng gói hang, gói hàng, lưu kho, van chuyển hang, thủ tục thông quan. thi đã xuất hiện thêm dich vụ logistics tron gói từ kho người sản xuất đến khi người nhận cuối cùng Ở một mức độ phat triển toản diện hon, dich vu logistics con cung cap hoạt động kiểm soát, phân phối và tư van giảm thiểu các chi phí vận hành, loại bỏ các giai đoạn vả chi phí thừa thấi nhằm tăng tôi đa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong bôi cảnh hiện nay, bên thương nhân kinh doanh dịch vu logistics còn có thé được ủy quyên để trở thành một chủ thé trong các hoạt động giao nhận, van tai hàng hóa thay mặt khách hang chứ không chi là một đại lý giao nhận, van tai hang hóa đơn thun.
Phần loại dich vu logistics Hiện nay, có rất nhiều cách dé phân loại dịch vu logistics.