Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT DI SẢN VĂN HÓA 1. Tổng quan về di sản văn hóa 1. Quan niệm chung về di sản văn hóa Di sản văn hóa luôn là một vấn đề được thế giới và Việt Nam quan tâm, chú trọng trong tiến trình phát triển văn hóa, kinh tế và xã hội nói chung. Di sản văn hóa hình thành từ sự sáng tạo của con người, có giá trị trên nhiều lĩnh vực, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được thế giới ghi nhận; là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và của cả nhân loại.
Di sản văn hóa theo văn kiện được Đại hội đồng quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS) lần thứ 11 ở Bungari tháng 10 năm 1996 phê chuẩn: “Di sản văn hóa là để chỉ những di tích và những di chỉ có giá trị di sản, tạo thành môi trường lịch sử hoặc môi trường xây dựng” Xuất phát từ hai định nghĩa cốt lõi: Một là của UNESCO – Tổ chức có uy tín trên thế giới về Văn hóa, Giáo dục và khoa học; hai là, định nghĩa từ Luật di sản văn hóa Việt Nam, để trao đổi quan điểm, nhận thức về di sản văn hóa theo hướng tiếp cận hiện đại. Theo UNESCO, “Văn hóa là tổng thể sống động sáng tạo của con người diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện đại. Qua hàng thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành một hệ thống các giá trị truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972 (Công ước 1972) là Công ước đầu tiên đưa ra định nghĩa, tiêu chí bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và di sản thiên nhiên. Đến năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới bổ sung và đưa ra khái niệm di sản 8 hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản.
Theo báo cáo của UNESCO năm 2015, đã có 1.031 di sản, thuộc 163 quốc gia tham gia Công ước Di sản Thế giới 1972 được ghi danh là Di sản Thế giới (802 di sản văn hóa, 197 di sản thiên nhiên, 32 di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên). Tại điều 1 của Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO, di sản văn hoá được hiểu là: các di tích, các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, các nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học. Trong quá trình triển khai hoàn thiện Công ước 1972, một số quốc gia đã manh nha xuất hiện một khái niệm di sản văn hóa mới: luật pháp Nhật Bản và Hàn Quốc đã quy định các tập quán “truyền thống” là “sản phẩm văn hóa” (Bourdier 1993, Ogino 1995, Jongsung 2003). Tại châu Âu, từ những năm 1980, các hình thức thể hiện của di sản đã chịu ảnh hưởng của các phạm trù như “di sản dân tộc học” ở Pháp (Chiva 1990, Fabre 1997) hay “tài sản văn hóa dân gian - dân tộc học - nhân học” ở Ý (beni demoetnoantropologici) (Tucci 2005, Bravo; Tucci 2006).
Nhằm phát huy Công ước 1972 và dung hòa với loại hình di sản văn hóa đang hình thành, Chương trình Kiệt tác của nhân loại được khởi xướng, và 30 năm sau, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 (Công ước 2003) chính thức ra đời, là một bước tiến mới về tư duy của nhân loại trong nhận thức, phương pháp tiếp cận và nhận diện cũng như hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể - bộ phận quan trọng cấu thành kho tàng di sản văn hóa của nhân loại. 9 Năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa, đến năm 2009, tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Điều 1, Luật Di sản văn hóa quy định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Từ hai định nghĩa then chốt nêu trên, cho ta thấy những nét đặc trưng cơ bản của di sản văn hóa là phản ánh khả năng sáng tạo của con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, được lưu truyền, chọn lọc, tích hợp hàm chứa những giá trị quý giá về lịch sử, văn hóa và khoa học; Di sản văn hóa đến từ quá khứ, nhưng mang hơi thở của thời đại, trở thành một phần hữu cơ của đời sống đương đại.
Phân loại di sản văn hóa Di sản văn hóa hình thành từ sự sáng tạo của con người, có giá trị trên nhiều lĩnh vực, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được thế giới ghi nhận gồm di sản văn hóa vật thể, di sản văn phi vật thể. - Di sản văn hoá vật thể Luật di sản văn hoá năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009 định nghĩa: “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. - Di sản văn hoá phi vật thể Theo điều 2 Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể năm 2003 của UNESCO: “Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình 10 thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hoá có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hoá của họ”. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá năm 2009 định nghĩa: “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”.
Tuy vậy, xét đến cùng, rất khó phân tách thật rạch ròi giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, bởi không thể một di sản văn hóa vật thể nào lại không hàm chứa tri thức, kinh nghiệm, tinh thần và dấu ấn của chủ nhân sáng tạo, đồng thời cũng không một di sản văn hóa phi vật thể nào lại không chứa đựng và biểu hiện thông qua một cái vỏ vật chất cụ thể - mà cái vỏ vật chất cao cấp nhất, đặc biệt nhất chính là con người. Cho nên, điều lý thú được rút ra là, con người cũng chính là một di sản văn hóa, với ý nghĩa (con người) vừa là chủ thể (sáng tạo ra văn hóa), vừa là khách thể (văn hóa nhào nặn ra nhân cách con người) của văn hóa. Theo đó, “trong đời sống xã hội, mỗi hành xử của con người được coi như một lựa chọn, trong đó ẩn dấu một động cơ giá trị. Và, mỗi sản phẩm văn hóa được tạo ra đều chứa đựng một giá trị xã hội nào đó.
Vì thế, có thể xem toàn bộ những tạo phẩm do hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như hiện tại làm ra được biểu hiện như là hình thức ngoại hiện của văn hóa, còn tổng giá trị xã hội chứa đựng trong các tạo phẩm ấy (cả vật thể và phi vật thể) trở thành nội dung tinh thần của văn hóa. Pháp luật về di sản văn hóa 1. Quan niệm pháp luật về di sản văn hóa 11 Pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, bao gồm tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành thống nhất. Pháp luật về di sản văn hóa là một "mảng" nội dung của hệ thống pháp luật có mối liên hệ và thống nhất với các quy định khác trong hệ thống pháp luật.
Pháp luật về di sản văn hóa đã được chú trọng ngay từ sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: Nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới; Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh 65 về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Có thể xem đây là văn bản quy pháp luật đầu tiên với vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Kể từ thời điểm đó đến nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm “gắn kết cộng đồng dân tộc’ và làm “cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”.
Trên cơ sở Hiến pháp Việt Nam năm 1992, Luật Di sản văn hóa 2001 được ban hành, tiếp đó đến 2009 là Luật sửa đổi bổ sung Luật di sản văn hóa năm 2009 chính là khung pháp lý quan trọng, thể hiện quan điểm pháp luật chính thức của nhà nước Việt Nam đối với di sản văn hóa.