Chương 1: Lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo. Chương 2: Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực thi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo ở Việt Nam. LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 1.
Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo 1. Khái niệm, đặc điểm quảng cáo thương mại và các hình thức quảng cáo thương mại phổ biến 1. Khái niệm quảng cáo thương mại Hiện nay, không chỉ Việt Nam mà trên toàn thế giới, quảng cáo đã trở thành một phần không thể tách rời trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân. Bởi vì, quảng cáo là một công cụ hữu hiệu để xúc tiến thương mại đã có lịch sử hình thành từ thời xa xưa.
Từ thời cổ đại, người Ấn Độ đã sử dụng các phiến đá để làm thông báo từ 4000 năm trước. Đến khi máy in ra đời, con người có thể in ấn và sản xuất quảng cáo dưới dạng tờ rơi và áp phích với số lượng lớn. Vào thế kỷ XVIII, quảng cáo báo chí đã xuất hiện lần đầu trên một tờ tuần báo tại Anh. Từ đó quảng cáo xuất hiện dưới hình thức áp phích, tờ rơi, báo chí đã xuất hiện khắp Châu Âu và các nước Bắc Mỹ và phát triển cho đến tận ngày nay.
Quảng cáo tiếp tục phát triển song song với sự phát triển về khoa học công nghệ, hiện nay, quảng cáo đã xuất hiện dưới rất nhiều hình thức: báo viết, báo hình, báo điện tử, video quảng cáo trực tuyến, review sản phẩm,…. Quảng cáo xuất hiện ở mọi nơi, mọi ngóc ngách trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta và vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Theo Philip Kotler, một trong những cay đại thụ của ngành Marketing nói chung và ngành quảng cáo nói riêng trên thế giới lại đưa ra những khái niệm khác về quảng cáo. Trong cuốn Marketing căn bản: “Quảng cáo là hình thức truyền thông không trực tiếp được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí” [26, tr.
Trong cuốn “Quản trị Marketing” tại chương 20 ông lại viết “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được người bảo trợ nhất định trả tiền” [27, tr. Đơn giản hơn, theo từ điển Tiếng Việt quảng cáo là “trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết đến nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng” [25] Theo khoản 1 điều 2 Luật Quảng cáo 2012 quy định: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ 8 có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” Từ các khái niệm trên, ta có thể thấy, quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc quảng bá, giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty,… đến khách hàng. Đây là một phương tiện truyền thông mạnh mẽ. Qua phương tiện này, thương nhân muốn tác động đến tâm lý, thói quen và hành vi của người tiêu dùng, thuyết phục người tiêu dùng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.
Đồng thời người tiêu dùng cũng thông qua phương tiện này mà biết được nhiều hơn về thông tin hàng hóa, dịch vụ có khả năng đáp ứng được nhu cầu của mình. Luật Quảng cáo 2012 đã phân quảng cáo thành hai loại là quảng cáo có mục đích sinh lời và quảng cáo không có mục đích sinh lời. Đối với quảng cáo có mục đích sinh lời, đây là hình thức quảng cáo giúp doanh nghiệp tạo ra doanh thu, lợi nhuận, tăng cường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp thu hút khách hàng và tạo ra tác động tích cực đối với người xem để thúc đẩy họ thực hiện một hành động nhất định, thường là mua sắm, sử dụng dịch vụ, hoặc hỗ trợ mục tiêu kinh doanh. Còn quảng cáo không có mục đích sinh lời là những chiến dịch quảng cáo không hướng đến việc tăng cường doanh số bán hàng hoặc lợi nhuận mà mục tiêu chính là tuyên truyền, cung cấp thông tin, giáo dục hoặc tạo ra nhận thức về các vấn đề xã hội, môi trường, văn hóa, hoặc các mục tiêu khác.
Ví dụ như các chiến dịch quảng cáo liên quan đến việc giáo dục về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường,… Do đó để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu, ở đề tài nghiên cứu khoa học về “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo ở Việt Nam” này, em sẽ tập trung phân tích về quảng cáo có mục đích sinh lời của tổ chức, cá nhân kinh doanh quảng cáo (cũng chính là quảng cáo thương mại). Sở dĩ phải là hành vi quảng cáo thương mại bởi vì mặc dù hoạt động quảng cáo không tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa, nhưng có vai trò rất lớn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh. Với tư cách là hoạt động xúc tiến thương mại, thương nhân phải trả một khoản tiền để thông tin quảng cáo đến với đối tượng mình muốn. Việc phải trả tiền cho quảng cáo tách nó ra khỏi xu hướng tự do thông tin của xã hội nói chung; đồng thời, nhà quảng cáo có thể cung cấp thông tin một cách chọn lọc, có định hướng tới người tiêu dùng [31], giúp nhà quảng cáo đạt được mục đích tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, tối đa lợi nhuận.
Điều này thể hiện bản chất thương mại của quảng cáo mà hoạt động 9 tuyên truyền, phổ biến thông tin khác không có được. Khẳng định bản chất thương mại của quảng cáo, Luật của Cộng đồng Châu Âu phân biệt rõ: “Quảng cáo không bao gồm: các thông tin do cơ quan phát thanh thực hiện có liên quan tới chương trình của cơ quan và các sản phẩm trực tiếp của chương trình này; các thông tin về dịch vụ công cộng và các lời kêu gọi cho việc làm từ thiện, miễn phí” [32, tr.Đặc điểm của quảng cáo thương mại Khác với quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mại khác thì quảng cáo thương mại có các đặc điểm pháp lý cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân. Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân có thể tự mình thực hiện các công việc cần thiết để quảng cáo để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận. Đây là đặc điểm khác biệt của quảng cáo thương mại đối với các hoạt động thông tin, cổ động do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội… thực hiện nhằm tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước.
Với bản chất là một hoạt động thương mại do thương nhân thực hiện, quảng cáo thương mại khác biệt với quảng cáo nói chung, mặc dù chúng đều có chung đặc điểm là một quá trình thông tin. Thứ hai, về cách thức xúc tiến thương mại. Trong hoạt động quảng cáo thương mại, thương nhân sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng, hóa dịch vụ đến khách hàng. Đặc điểm này là đặc điểm riêng biệt của quảng cáo thương mại với hình thức xúc tiến thương mại cũng có mục đích giới thiệu hàng hóa, dịch vụ như trưng bày, hội chợ triển lãm.
Sản phẩm của quảng cáo thương mại là các hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng hay màu sắc ánh sáng được thiết kế để làm toát lên sản phẩm mà cá nhân hay tổ chức muốn đưa tới cho khách hàng. Nội dung quảng cáo thương mại cũng chính là những sản phẩm thương mại có tính định hình sản phẩm. Sản phẩm quảng cáo được truyền tải đến công chúng thông qua phương tiện quảng cáo. Phương tiện quảng cáo của quảng cáo thương mại rất đa dạng gồm: các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình,…; các phương tiện truyền tin như radio, loa phát thanh,…; các loại xuất bản phẩm như báo chí, tạp chí, tuần san,…; các loại bảng, biển, băng rôn, áp phích, vật thể cố định, các phương tiện giao thông hay các vật thể di động khác.
Các thương nhân có thể sử dụng một hoặc nhiều loại 10 phương tiện quảng cáo trong quá trình quảng cáo để thông tin về hàng hoá, dịch vụ đến khách hàng. Thứ ba, về mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại. Với mục đích giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân. Thông qua các hình thức truyền đạt thông tin, thương nhân giới thiệu về một loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng… Như vậy, thương nhân có thể tạo sự nhận biết và kiến thức về hàng hóa, dịch vụ, có thể thu hút khách hàng đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty khác thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm và lợi ích của một nhãn hiệu cụ thể hoặc thông qua việc chỉ ra tính ưu việt có căn cứ của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại.
Có thể nói đây là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng xã hội bao gồm nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất. Từ các đặc điểm trên ta có thể thấy, quảng cáo thương mại có vai trò xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân. Thương nhân sử dụng quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình đến khách hàng. Từ đó thương nhân có thể giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của mình, từ giới thiệu đặc điểm và lợi ích của sản phẩm, cho đến chỉ ra tính ưu việt của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại đến khách hàng và qua đó thu hút khách hàng mua các sản phẩm của mình.
Có thể nói đây là những đặc trưng riêng biệt mà chỉ quảng cáo thương mại mới có được.