Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá tại các ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm, đặc điểm của cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá 1.1 Khái niệm cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá Hoạt động cho vay của NHTM tiềm ẩn những rủi ro vô cùng lớn, thậm chí có thể gây sụp đổ hệ thống ngân hàng, tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế đất nước. Do đó, NHTM có quyền xem xét, quyết định cho vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba. Nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả và hạn chế đến mức tối đa rủi ro trong hoạt động cho vay, ở tất cả các nước trên thế giới đều có các quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay, trong đó chú trọng đến các vấn đề cho vay có bảo đảm bằng việc cầm cố tài sản và cụ thể là cầm cố giấy tờ có giá.
Theo quy định tại Điều 326 Bộ luật dân sự 2005, “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”[12]. Đặc trưng quan trọng nhất của việc cầm cố tài sản là bên cầm cố giao tài sản của mình, cụ thể ở đây là giấy tờ có giá cho bên cho vay để đảm bảo khoản vay. Theo điểm 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, “giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”[14]. Vì vậy, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ 7 có giá là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố là giấy tờ có giá.
Cách bảo đảm này có mục đích giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp các khách hàng vay không trả được nợ hay không muốn trả nợ khi đến hạn. Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá là hình thức cấp tín dụng được các NHTM sử dụng phổ biến vì tính đơn giản, dễ hiểu và thời gian thực hiện nhanh của nó. Mặc dù giấy tờ có giá là tài sản cầm cố có tính thị trường tức là có khả năng thanh lý để thu hồi nợ nhưng hình thức này vẫn có rủi ro nhất định bởi tài sản có thể bị mất giá.2 Đặc điểm cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, trong hoạt động cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá là việc ngân hàng Thương mại nắm giữ bản gốc giấy tờ có giá của khách hàng vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho một hay nhiều khoản vay cầm cố tại NHTM. Như vậy, sẽ tồn tại hai mối quan hệ trong nghiệp vụ này, đó là quan hệ cho vay và quan hệ cầm cố giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay.
Quan hệ cho vay là một quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai bên: Một bên là người đi vay, một bên là người cho vay (Ngân hàng Thương mại). Trong quan hệ này ngân hàng thương mại chuyển giao quyền sở hữu tiền trong một thời gian nhất định cho bên vay. Sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả.
Mối quan hệ thứ hai là quan hệ cầm cố. Đó là một quan hệ pháp luật được hình thành từ rất sớm trong lịch sử pháp luật dân sự. Khái niệm cầm cố cũng được nhắc đến trong Bộ luật Manu của Ấn Độ (thế kỷ II trước công nguyên). Quan hệ cầm cố được điều chỉnh đồng thời bởi quy định của pháp luật về dân sự, kinh tế và ngân hàng.
8 Trong quan hệ cầm cố như đã nói ở trên, bên vay có nghĩa vụ giao giấy tờ có giá là động sản thuộc sở hữu của mình cho ngân hàng thương mại để đảm bảo cho khoản tiền vay tại ngân hàng. Mối quan hệ này phát sinh từ quan hệ cho vay và nó là quan hệ phụ nhưng có ý nghĩa quyết định sự tồn tại của quan hệ cho vay. Nếu không có quan hệ cầm cố nghĩa là không có nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng ngân hàng do đó sẽ không thể có quan hệ cho vay. Vì vậy, đối với việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá luôn tồn tại 2 mối quan hệ song song là quan hệ cho vay và quan hệ cầm cố.
Thứ hai, đó là vấn đề sở hữu. Dựa trên định nghĩa cầm cố, giấy tờ có giá phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay bởi vì nếu việc xử lý tài sản cầm cố diễn ra thì sẽ dẫn tới việc quyền sở hữu giấy tờ có giá sẽ được chuyển giao cho bên khác, cho nên bên vay phải có quyền định đoạt tài sản này để việc chuyển giao đó có hiệu lực [3]. Do đó, việc cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của người khác là không có giá trị pháp lý. Hơn trên hết, đặc trưng của hình thức cho vay bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá là bên vay chỉ cam kết đem cầm cố giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại như một tài sản bảo đảm cho khoản vay chứ không thỏa thuận “bán đứt” giấy tờ có giá cho NHTM.
Vì vậy, dựa theo khoản 4 Điều 17 Thông tư 17/2011/TT- NHNN, “sau khi ngân hàng đã hoàn trả hết nợ vay gốc và lãi, Ngân hàng Nhà nước sẽ hoàn trả các giấy tờ có giá đã sử dụng làm tài sản cầm cố tổ chức tín dụng”[8]. Bên cạnh đó, Điều 340 Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định “Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 339 của Bộ luật này thì tài sản cầm cố, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu được trả lại cho bên cầm cố. Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, nếu không có thoả thuận khác”[12]. Như vậy, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá là thỏa thuận từ hai bên về tài sản và nghĩa vụ của các bên.
Bên vay chỉ cầm cố giấy tờ có giá để đảm bảo khoản 9 vay chứ không chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại. Đặc điểm thứ ba là về xác lập hợp đồng trong hoạt động cho vay của NHTM: Như phân tích ở trên, do hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá tồn tại 2 mối quan hệ đó là cho vay và cầm cố nên giữa NHTM và khách hàng vay sẽ có hai loại hợp đồng: Hợp đồng tín dụng (1 dạng của hợp đồng vay tài sản) và hợp đồng cầm cố tài sản. Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”[12]. Như vậy có thể hiểu trong hình thức cấp tín dụng này cơ sở của nó là hợp đồng vay tiền và khi hết hạn của hợp đồng, khách hàng có nghĩa vụ trả lại cho ngân hàng thương mại số tiền tương đương với số tiền đã vay đồng thời trả thêm một số lợi ích vật chất nếu 2 bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Đặc điểm tiếp theo là về nghĩa vụ thanh toán. Khoản 3 Điều 330 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác”[12]. Điều đó có nghĩa là khi hết hạn hợp đồng tín dụng, khách hàng phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng đã ký kết với ngân hàng. Phải trả đủ tiền đã vay và tiền lãi theo thỏa thuận giữa 2 bên.
Trong số các nghĩa vụ của khách hàng vay thì nghĩa vụ trả nợ này là quan trọng nhất. Nghĩa vụ này không bao giờ được miễn trừ, kể cả xảy ra tình trạng bất khả kháng. Nguyên tắc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá Việc cấp tín dụng bằng hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá trước hết phải tuân theo nguyên tắc cho vay chung của Điều 6 Quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN: “1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”.[7] Nguyên tắc thứ nhất là sử dụng vốn vay đúng mục đích: Cho vay để thực hiện mục đích hợp pháp và hiệu quả. Tức là, các đơn vị có nhu cầu vay vốn của ngân hàng đều phải có kế hoạch, đơn xin vay gửi ngân hàng với đầy đủ các nội dung sau: Số tiền vay, thời hạn sử dụng vốn vay, mục đích sử dụng vốn vay và tính hiệu quả của vốn vay ngân hàng. Trên cơ sở đó ngân hàng kiểm tra xem xét, nếu thấy đồng vốn vay ngân hàng đem lại hiệu quả kinh tế và trả nợ đúng hạn thì mới quyết định cho vay. Mặt khác trên cơ sở kế hoạch xin vay vốn của người xin vay, bản thân ngân hàng phải xây dựng kế hoạch cho vay vốn của mình để chủ động trong việc đầu tư tín dụng.
Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn phát sinh ngoài kế hoạch, ngân hàng xét thấy cần thiết và hợp lý, cân đối với nguồn vốn của mình, có thể cho vay bổ sung cho người vay. Vốn vay phải sử dụng đúng cam kết và mục đích.