MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nằm ngay trên ngã tƣ hàng hải quốc tế, với vị thế là hành lang hàng hải chiến lƣợc nối liền Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng, Biển Đông đƣợc đánh giá là vùng biển trọng yếu nhất trên thế giới. Không một vùng biển nào với diện tích tƣơng đƣơng ¾ Địa Trung Hải lại có tầm quan trọng về phƣơng diện giao thông nhƣ Biển Đông. Biển Đông còn đƣợc biết đến với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao.
Vai trò, vị trí chiến lƣợc của Biển Đông gắn liền với lợi ích thiết thân của không chỉ các quốc gia trong khu vực mà cả các cƣờng quốc lớn nhƣ Mỹ, Nhật Bản. Chính vị trí chiến lƣợc và nguồn lợi khổng lồ từ tài nguyên thiên nhiên đã khiến Biển Đông rơi vào tầm ngắm của các quốc gia trong khu vực và các cƣờng quốc trên thế giới. Các quốc gia đều nhận thức đƣợc rằng: “Ai kiểm soát biển và đất liền thì thống trị châu Âu – châu Á, ai thống trị châu Âu – châu Á sẽ kiểm soát vận mệnh của thế giới” [48]. Vùng biển này đƣợc đặt trong bố trí chiến lƣợc của các quốc gia.
Nhằm vƣơn tới những lợi ích kinh tế và đạt đƣợc những mục tiêu chính trị, các nƣớc trong khu vực đã đƣa ra tuyên bố chủ quyền đối với một phần hay toàn bộ Biển Đông. Thêm vào đó, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và nhiều nƣớc khác tại quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã làm tăng thêm tính phức tạp, biến Biển Đông trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị. Những năm gần đây, chiến lƣợc tiến ra biển cả, mở rộng chủ quyền trên biển và khai thác tài nguyên thiên nhiên biển phục vụ cho phát triển kinh tế đất nƣớc luôn là mối quan tâm hàng đầu của Trung Quốc. Trung Quốc đã cho ban hành một loạt văn bản pháp luật về biển, đảo để tạo cơ sở pháp lý, 1 z hợp thức hóa các hoạt động của mình trên các vùng biển tranh chấp.
Điều này đã ảnh hƣởng trực tiếp tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 của Hội nghị lần thứ tƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa 9 về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển”. Một trong những giải pháp đƣợc đƣa ra đó là: “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng.
Xây dựng cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Từ những quan điểm thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc và để thực hiện chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc ta đối với vấn đề phân định biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật biển của các quốc gia hữu quan trong đó có Trung Quốc là vô cùng cần thiết. Trong thực tiễn, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã kéo dài nhiều thập kỷ làm ảnh hƣởng đến hòa bình, an ninh trong khu vực nói chung và ảnh hƣởng đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng. Những năm qua, hai nƣớc đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán tuy nhiên vẫn chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu pháp luật Trung Quốc về biển, đảo để bảo đảm giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia khi tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc thời gian tới. 2 z Bên cạnh đó, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc về biển, đảo cũng xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Từ khi thành lập nƣớc đến nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã luôn quan tâm tới vấn đề bảo vệ chủ quyền trên biển, xây dựng pháp luật biển quốc gia tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, Việt Nam có thể tìm đƣợc những phƣơng hƣớng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nƣớc phù hợp.
Có thể thấy, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo đã tác động nhất định tới cục diện tranh chấp Biển Đông, gây nên những ảnh hƣởng tiêu cực tới cục diện chung và trực tiếp ảnh hƣởng tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp trong đó có Việt Nam. Từ chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, phân tích, chỉ ra những điểm không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc là cần thiết. Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo nhìn từ góc độ luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông” làm đề tài luận văn của mình. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn có nhiệm vụ: Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo.
Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tƣơng quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc. 3 z Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông. Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông.
Đƣa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông. Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đƣa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi đề tài, luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật về biển, đảo của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong giai đoạn từ năm 1949 đến nay và tập trung nghiên cứu những văn bản pháp luật về biển, đảo có liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau: o Phƣơng pháp duy vật biện chứng; o Phƣơng pháp phân tích tổng hợp; o Phƣơng pháp quy nạp và diễn dịch; o Phƣơng pháp thống kê; o Phƣơng pháp so sánh; o Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác.
Những đóng góp của luận văn Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những văn bản pháp luật chủ yếu của Trung Quốc về biển, đảo đƣa đến một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp 4 z luật biển, đảo Trung Quốc. Đồng thời thông qua việc nghiên cứu các văn bản pháp luật Trung Quốc liên quan trực tiếp tới Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa trong mối tƣơng quan với pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề biển, đảo, luận văn chỉ ra, phân tích và đánh giá những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc. Từ đó, kiến nghị, đề xuất đối sách cho Việt Nam trong vấn đề Biển Đông và đƣa ra phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo. Kết cấu luận văn Luận văn gồm 3 Chƣơng: Chƣơng 1: Một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo.
Chƣơng 2: Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tƣơng quan với pháp luật quốc tế và tác động đối với vấn đề Biển Đông. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật biển Việt Nam qua nghiên cứu, đánh giá pháp luật Trung Quốc. 5 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN, ĐẢO 1. Chính sách bành trƣớng ra biển, đảo của Trung Quốc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ pháp luật Trung Quốc về biển, đảo 1.
Tổng quan về chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc Trung Quốc là một quốc gia lớn trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đƣợc biết đến nhƣ một quốc gia mang trong mình những tƣ tƣởng thống trị và tham vọng bá quyền. Điều này thể hiện trong các tuyên bố và hành động của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua. Trung Quốc luôn duy trì chính sách bành trƣớng, mở rộng chủ quyền lãnh thổ.
Từ các vùng lãnh thổ của các quốc gia có chung đƣờng biên giới đến các vùng biển khác nhau đều nằm trong tầm ngắm của Trung Quốc. Chính tƣ tƣởng bành trƣớng trên cơ sở những luận điệu khác nhau đã khiến tranh chấp về phân định đƣờng biên giới giữa Trung Quốc với nhiều quốc gia (nhƣ Nga, Mông Cổ, Ấn Độ, các nƣớc Trung Á, Đông Nam Á) thƣờng xuyên phát sinh. Trong quan hệ với Nga, trong lịch sử và đặc biệt là vào thập niên 60-70 của thế kỷ 20, hai nƣớc đã có những bất đồng lớn khi Bắc Kinh đòi 1.540 km² đất thuộc lãnh thổ Nga mà dƣờng nhƣ “Sa hoàng đã cƣớp của Trung Quốc trong thế kỷ 19”. Các nhà sử học Trung Quốc cố công đƣa ra luận thuyết về “những vùng đất bị mất” và “món nợ nào đó” của Nga đối với Trung Quốc, mà âm hƣởng của nó đến ngày nay vẫn còn thấy rộ lên trong các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm phát hành rộng rãi và thậm chí cả trong sách giáo khoa phổ thông.