Tổng quan nghiên cứu

Biển Đông là vùng biển chiến lược quốc tế có diện tích khoảng 3,5 triệu km², tương đương 3/4 diện tích Địa Trung Hải, đóng vai trò là hành lang hàng hải huyết mạch kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với hơn 50% khối lượng vận tải thương mại đường biển toàn cầu đi qua mỗi năm. Nhận thức rõ giá trị địa chính trị và trữ lượng tài nguyên thiên nhiên phong phú, Trung Quốc đã từng bước đẩy mạnh chính sách bành trướng và nội luật hóa các yêu sách lãnh thổ phi lý, đặc biệt là yêu sách đường 9 đoạn bao trùm hơn 80% diện tích Biển Đông.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, phân tích toàn diện hệ thống pháp luật biển của Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 2011 dưới lăng kính của luật pháp quốc tế, trọng tâm là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Luận văn hướng đến 3 mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật và tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về biển đảo; chỉ rõ những điểm mâu thuẫn, vi phạm luật pháp quốc tế trong hệ thống lập pháp của nước này; và kiến nghị các đối sách pháp lý nhằm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực tiễn pháp lý và các tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn từ năm 1949 đến năm 2011. Nghiên cứu có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, cung cấp cơ sở lý luận sắc bén và luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ nhiệm vụ quản lý, bảo vệ hơn 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận nền tảng của luật quốc tế hiện đại được pháp điển hóa trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia. Trong đó, nghiên cứu dựa trên 3 nguyên tắc trọng yếu: bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, và giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.

Bên cạnh đó, khung pháp lý chuyên ngành nòng cốt là hệ thống quy phạm của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) với các chế định cụ thể:

  • Quy chế lãnh hải 12 hải lý và phương pháp xác định đường cơ sở (Điều 5, Điều 7).
  • Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải (24 hải lý), vùng đặc quyền kinh tế (200 hải lý theo Điều 57) và thềm lục địa (Điều 76).
  • Quy chế đảo và các thực thể nổi (Điều 121) phân định rõ đảo tự nhiên có đời sống kinh tế riêng biệt với các bãi đá, bãi ngầm không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
  • Chế định quốc gia quần đảo (Điều 46, Điều 47) và nguyên tắc xác lập chủ quyền lịch sử hợp pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 50 điều ước quốc tế đa phương và song phương, hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật và tuyên bố chính thức của Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 2011 (như Tuyên bố lãnh hải 1958, Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp 1992, Luật Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa 1998, Luật Bảo vệ hải đảo 2009), cùng hơn 20 văn bản pháp luật của Việt Nam và các báo cáo đệ trình ranh giới thềm lục địa mở rộng lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hợp Quốc (CLCS) vào tháng 5/2009.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 5 nhóm văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi của Trung Quốc điều chỉnh về chủ quyền, hàng hải, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và 12 sự kiện pháp lý - tranh chấp thực địa tiêu biểu trên Biển Đông trong 62 năm (1949–2011). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu định tính chuyên gia có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các văn bản có tác động trực tiếp nhất đến vùng biển Việt Nam.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp diễn dịch, quy nạp và duy vật biện chứng là nhằm bóc tách sự đối lập giữa câu chữ lập pháp đơn phương của Trung Quốc với các chuẩn mực pháp lý quốc tế phổ quát, từ đó đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học cho các kết luận nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống pháp luật biển của Trung Quốc thể hiện sự bất tương thích nghiêm trọng với UNCLOS 1982 trong việc xác định đường cơ sở và quy chế quần đảo. Bản Tuyên bố đường cơ sở ngày 15/5/1996 của Trung Quốc đã tùy tiện áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng để nối các điểm ngoài cùng của quần đảo Hoàng Sa. Hành vi này vi phạm trực tiếp Điều 46 và Điều 47 của UNCLOS 1982 – điều khoản chỉ cho phép các "quốc gia quần đảo" (như Indonesia, Philippines) thiết lập đường cơ sở quần đảo, tuyệt đối không áp dụng cho các quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển lục địa.

Thứ hai, yêu sách "đường 9 đoạn" (đường hình chữ U) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông hoàn toàn vô giá trị về mặt pháp lý quốc tế. Phân tích văn bản công hàm CML/17/2009 của Trung Quốc cho thấy sự mâu thuẫn nội tại: Bắc Kinh vừa đòi hỏi quyền chủ quyền theo UNCLOS 1982 nhưng lại viện dẫn khái niệm "quyền lịch sử" mơ hồ không được công ước thừa nhận để phủ nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý hợp pháp của các quốc gia ven biển như Việt Nam, Malaysia và Philippines.

Thứ ba, chính sách biển của Trung Quốc mang tính bành trướng rõ nét thông qua việc dùng sức mạnh quân sự chiếm đóng trái phép lãnh thổ, sau đó ban hành văn bản pháp luật để hợp thức hóa. Cụ thể là việc dùng vũ lực đánh chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa năm 1956, chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974, chiếm đóng các bãi đá tại Trường Sa ngày 14/3/1988 khiến 74 chiến sĩ Việt Nam hy sinh hoặc mất tích, xâm chiếm đá Vành Khăn năm 1995, thành lập phi pháp thành phố Tam Sa vào tháng 12/2007 và thực hiện các vụ cắt cáp địa chấn tàu Bình Minh 02 (cắt 7 km cáp ngày 26/5/2011) và tàu Viking II ngày 9/6/2011.

Thứ tư, hệ thống quản lý biển của Trung Quốc bộc lộ sự phân mảnh với hơn 5 cơ quan cùng thực thi pháp luật trên biển (Hải giám, Ngư chính, Hải cảnh, Hải quân, Cục Hải sự) dựa trên hơn 15 đạo luật chuyên ngành chồng chéo, nhưng được quy tụ thống nhất dưới mục tiêu chiến lược phát triển "kinh tế biển xanh" và vươn lên thành cường quốc biển trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 và lần thứ 12.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những mâu thuẫn trên bắt nguồn từ chủ trương "gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác" mà Trung Quốc đề xuất từ thập niên 1990. Thực chất đây là sách lược áp đặt tư tưởng nước lớn, bởi điều kiện tiên quyết mà Bắc Kinh đưa ra luôn là "chủ quyền thuộc về Trung Quốc", nhằm vô hiệu hóa chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải mô hình hóa sự tương quan giữa các mốc lập pháp và hành động thực địa. Dữ liệu này có thể được trình bày trực quan qua bảng đối chiếu ma trận pháp lý giữa 6 quy định cốt lõi của UNCLOS 1982 với các điều khoản vi phạm trong Luật Lãnh hải 1992 và Luật Vùng đặc quyền kinh tế 1998 của Trung Quốc. Đồng thời, một biểu đồ tiến trình giai đoạn 1949–2011 sẽ minh họa rõ nét mức độ gia tăng các vụ va chạm thực địa (tăng đột biến hơn 60% trong giai đoạn 2007–2011) tỷ lệ thuận với các chính sách quy hoạch biển quốc gia của Bắc Kinh.

So với các công trình nghiên cứu cùng thời kỳ, luận văn đã làm sáng tỏ bản chất của "cuộc chiến pháp lý" (lawfare) mà Trung Quốc áp dụng, chỉ ra rằng việc Trung Quốc tham gia hơn 50 điều ước quốc tế thực chất là giải pháp ngoại giao có chọn lọc, sẵn sàng diễn giải sai lệch các quy định quốc tế để phục vụ lợi ích bá quyền đơn phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và chủ động ứng phó với các thách thức pháp lý từ phía Trung Quốc, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật biển quốc gia: Quốc hội và các cơ quan tư pháp cần khẩn trương xây dựng, thông qua Luật Biển Việt Nam đồng bộ trong giai đoạn 2012–2013. Đạo luật này phải tích hợp và nâng tầm Tuyên bố năm 1977, Tuyên bố đường cơ sở năm 1982, nội luật hóa toàn diện 100% các nguyên tắc của UNCLOS 1982, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc quản lý và khẳng định chủ quyền trên các vùng biển đảo.
  2. Chuẩn hóa hồ sơ và tài liệu chứng minh chủ quyền: Bộ Ngoại giao phối hợp với các cơ quan nghiên cứu lịch sử hoàn thiện 100% bộ hồ sơ khoa học - pháp lý khẳng định chủ quyền liên tục, hòa bình của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII) đến nay; chuẩn bị sẵn sàng các phương án sử dụng cơ chế tài phán quốc tế theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982.
  3. Hiện đại hóa lực lượng thực thi pháp luật trên biển: Chính phủ cần ưu tiên tăng ngân sách từ 15% đến 20% mỗi năm cho lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư; nâng cao năng lực tuần tra, giám sát thực thi pháp luật 24/7 nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí và hoạt động khai thác hải sản của ngư dân trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế.
  4. Thúc đẩy quốc tế hóa và đa phương hóa giải pháp Biển Đông: Tích cực phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý cao hơn Tuyên bố DOC năm 2002; đẩy mạnh ngoại giao pháp lý song phương và đa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với lập trường chính nghĩa của Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn có giá trị chuyên môn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách đối ngoại: Chuyên viên thuộc Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Quốc phòng có thể sử dụng các luận cứ so sánh luật học để phục vụ trực tiếp công tác đàm phán song phương, chuẩn bị văn kiện pháp lý đấu tranh ngoại giao.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các chuyên gia thuộc khối ngành Luật Quốc tế (mã số 60 38 60), Quan hệ Quốc tế, Luật Biển tại các trường đại học và viện nghiên cứu tìm thấy trong tài liệu này hệ thống dữ liệu toàn diện về lập pháp biển Trung Quốc và phương pháp luận phân tích tranh chấp quốc tế.
  • Lực lượng thực thi pháp luật và an ninh trên biển: Chỉ huy các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư có thêm tài liệu phục vụ công tác huấn luyện nghiệp vụ pháp lý, nâng cao kỹ năng xử lý các tình huống va chạm, bảo vệ 100% quyền chủ quyền trên thực địa.
  • Phóng viên, biên tập viên và chuyên gia truyền thông đối ngoại: Những người thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền biển đảo có được nguồn số liệu lịch sử xác thực, luận cứ pháp lý chặt chẽ để xây dựng các tuyến bài tuyên truyền định hướng dư luận trong nước và quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Đường cơ sở thẳng năm 1996 của Trung Quốc tại Hoàng Sa vi phạm UNCLOS 1982 như thế nào?

Trung Quốc là quốc gia lục địa nhưng lại áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng bao bọc toàn bộ quần đảo Hoàng Sa theo quy chế quốc gia quần đảo (vốn chỉ dành cho các nước như Indonesia theo Điều 46 UNCLOS 1982). Hành vi này vi phạm nghiêm trọng Điều 7 và Điều 47, làm mở rộng vùng nội thủy phi pháp lên hàng nghìn km².

Bản chất pháp lý của luận điểm "gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác" là gì?

Luận điểm này do Trung Quốc đưa ra với điều kiện tiên quyết là "chủ quyền thuộc về Trung Quốc" (phát biểu của Ngoại trưởng Tiền Kỳ Thâm tháng 3/1991). Đây thực chất là biện pháp đơn phương nhằm phủ nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam và các nước ven biển, biến vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp để khai thác tài nguyên.

Yêu sách đường 9 đoạn (đường chữ U) chiếm bao nhiêu diện tích Biển Đông và có giá trị không?

Đường 9 đoạn bao trùm khoảng 80% diện tích Biển Đông, lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của các nước ven biển. Yêu sách này hoàn toàn không có cơ sở trong UNCLOS 1982, vi phạm các quyền tài phán biển được cộng đồng quốc tế công nhận và không có giá trị pháp lý.

Sự kiện tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp năm 2011 phản ánh điều gì trong chính sách của Trung Quốc?

Sáng ngày 26/5/2011, 3 tàu hải giám Trung Quốc đã cố ý cắt 7 km cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 tại lô 148 thuộc thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Hành động này phản ánh sự chuyển hướng từ chiến lược "giấu mình chờ thời" sang răn đe thực địa cứng rắn, sử dụng lực lượng bán quân sự để cản trở quyền khai thác hợp pháp của Việt Nam.

Luận văn đề xuất giải pháp lập pháp quan trọng nhất nào cho Việt Nam?

Luận văn nhấn mạnh tính cấp thiết của việc ban hành một đạo luật tổng thể là Luật Biển Việt Nam (sau đó được Quốc hội thông qua năm 2012), nhằm chuẩn hóa toàn bộ các tuyên bố pháp lý từ năm 1977 đến nay, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để bảo vệ chủ quyền biển đảo theo chuẩn mực UNCLOS 1982.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển của hệ thống pháp luật biển Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 2011, vạch rõ chính sách bành trướng lãnh thổ xuyên suốt.
  • Chứng minh một cách thuyết phục tính chất bất hợp pháp của đường cơ sở thẳng tại Hoàng Sa và yêu sách đường 9 đoạn dưới góc độ UNCLOS 1982.
  • Phân tích rõ nét mối liên hệ giữa các bước leo thang lập pháp nội bộ của Trung Quốc với các hành động xâm phạm thực địa tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
  • Đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc xây dựng Luật Biển Việt Nam và hoạch định chính sách đối ngoại bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện lập pháp, hiện đại hóa lực lượng thực thi trên biển và đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao pháp lý quốc tế.

Công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu quý báu, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn tại thư viện Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai thực tiễn.