Chương 1: Trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài thương mại • Chương 2: Thực trạng pháp luật trọng tài thương mại ở nước ta hiện nay • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm góp phần thực thi Pháp lệnh Trọng tài Thương mại vào cuộc sống - Phần Kết luận z 8 Chƣơng 1 TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1.1 Trọng tài thƣơng mại - một thiết chế khách quan của nền kinh tế thị trƣờng 1.1 Khái niệm, đặc điểm của trọng tài Khái niệm “Trọng tài” từ lâu đã rất quen thuộc trong đời sống kinh tế ở các nước, nhưng ở Việt Nam, do những điều kiện đặc thù riêng nên mức độ phổ biến cũng như nhận thức về khái niệm này còn nhiều hạn chế. Có nhiều định nghĩa về trọng tài. Theo giáo trình Tư pháp quốc tế của Liên Xô (cũ): “Trọng tài bao gồm những cá nhân được các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các vụ việc dân sự của họ”. Theo Giáo sư Philip Phusa, trường Đại học Tổng hợp Pari II: “Trọng tài là một phương pháp nhằm uỷ thác bằng thỏa thuận cho một tư nhân (một trọng tài viên) quyền giải quyết một tranh chấp đối lập giữa các bên trong thỏa thuận ấy” [69, tr.
Hay: “Trọng tài thương mại là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử” [14] Theo Khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại ngày 25 tháng 2 năm 2003 thì “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định”. Có thể nhận thấy, từ nhiều góc độ khác nhau, thuật ngữ “Trọng tài” được định nghĩa rất đa dạng. Tuy nhiên, bản chất của trọng tài vẫn chỉ là một, đó là: Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp hay bất đồng giữa các bên thông qua “người thứ ba”, theo đó, người thứ ba được quyền xem xét và ra phán quyết có tính ràng buộc đối với các bên và nếu phán quyết đó không được tự nguyện thi hành thì sẽ được Nhà nước bằng cách này hay cách khác cưỡng chế thi hành. z 9 Ở Việt Nam, đa số các nhà khoa học pháp lý đều quan niệm hoạt động trọng tài cũng là hoạt động tài phán, hoạt động xét xử, thủ tục trọng tài cũng là thủ tục tài phán, thủ tục xét xử.TSKH Đào Trí Úc mặc dù không trực tiếp khẳng định bản chất tài phán của trọng tài nhưng đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của trọng tài: “Xây dựng một hệ thống tài phán kinh tế phù hợp với yêu cầu của thị trường vừa có khả năng bảo đảm phát huy hiệu quả của hoạt động kinh doanh vừa bảo đảm pháp chế và kỷ luật” trong đó: “hệ thống trọng tài làm nền tảng cho hoạt động của tư pháp kinh tế” [68, tr.465] Thể chế trọng tài luôn thể hiện bản chất hai mặt: thỏa thuận và tài phán.
Do đó, nếu pháp luật quy định việc phải đưa các tranh chấp, bất đồng ra giải quyết tại một tổ chức trọng tài mà không phải do các bên thỏa thuận thì tổ chức này không phải là một cơ quan trọng tài theo đúng nghĩa. Chính bản chất hai mặt này của trọng tài làm nên sự khác biệt của hình thức giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài so với hình thức khác. Hình thức giải quyết bằng trọng tài có thể áp dụng đối với mọi loại tranh chấp. Song với những đặc điểm của nó, hình thức trọng tài đặc biệt phù hợp với các tranh chấp trong kinh doanh.
Trên thế giới hầu hết các trung tâm trọng tài đều là trọng tài thương mại. Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trọng tài kinh tế nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Nhiệm vụ chủ yếu của các cơ quan này là hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế; giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế chỉ là nhiệm vụ thứ yếu. Trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, trọng tài kinh tế nhà nước đóng vai trò như một “cơ quan xét xử” của nhà nước mang danh nghĩa trọng tài, chúng không phải là những cơ quan trọng tài đích thực.
Do vậy, các phán quyết của trọng tài phần nhiều bị chi phối bởi ý chí nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước. Những đặc điểm đó không còn phù hợp với yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp trong kinh tế thị trường, cho nên mô hình trọng tài kinh tế z 10 ở các nước này đã bị giải thể ngay sau khi chế độ tư bản đã thắng thế. Ngược lại với mô hình trên, ở các nước có nền kinh tế thị trường, các trung tâm trọng tài thương mại thường ra đời trên cơ sở sáng kiến và sự tự nguyện của các trọng tài viên. Trọng tài thương mại là cơ quan tài phán được luật pháp của các nước có nền kinh tế thị trường thừa nhận.
Các trung tâm này nằm ngoài các thiết chế nhà nước, chúng tồn tại với tư cách những tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có quy tắc tố tụng riêng và được nhà nước hỗ trợ hoạt động ở nhiều phương diện. Sự xuất hiện của các trung tâm này là xuất phát từ nhu cầu của xã hội mà trước hết là của giới thương gia và do chính xã hội tổ chức nên. Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại là những tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được lập ra một cách tự nguyện bởi các trọng tài viên để tham gia vào giải quyết các tranh chấp trong hoạt động thương mại theo yêu cầu của các bên tranh chấp. Với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài thương mại được tổ chức theo những mô hình rất đa dạng.
Đó có thể là những trung tâm trọng tài đặt bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp như Viện trọng tài Thụy Điển bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Stockhom, Uỷ ban Trọng tài Thái Lan nằm bên cạnh Phòng Thương mại Thái Lan và Phòng Thương mại nước ngoài đặt tại Thái Lan. Đó cũng có thể là các trung tâm trọng tài đứng độc lập dưới hình thức các công ty hoặc các hiệp hội (theo Luật về công ty hoặc hiệp hội), ví dụ như: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) với tính chất một công ty trách nhiệm hữu hạn, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (HKIAC), Hiệp hội Trọng tài Thương mại Nhật Bản, Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Australia. Mặc dù mô hình tổ chức có thể khác nhau, song các trung tâm trọng tài thương mại đều có những đặc điểm như sau [07]: Thứ nhất, các tổ chức trọng tài đều là các tổ chức phi chính phủ. Tính chất phi chính phủ của các tổ chức trọng tài thương mại được thể hiện: z 11 - Các tổ chức trọng tài không phải là cơ quan nhà nước, không thực hiện quyền lực nhà nước.
Sự độc lập về tổ chức đã cho phép các trung tâm trọng tài độc lập trong hoạt động. Các trung tâm trọng tài hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, trong sự quản lý của nhà nước nhưng không được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của nhà nước. Sự độc lập thể hiện cao nhất trong hoạt động tố tụng, trong việc tự xác lập quy tắc tố tụng trên nguyên tắc đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên đương sự. Các tổ chức trọng tài tồn tại với tư cách là những tổ chức xã hội - nghề nghiệp, không phải là một cơ quan tài phán tư pháp như tòa án kinh tế.
Các tổ chức này không chịu sự can thiệp trực tiếp của nhà nước về tổ chức, nhân sự, tài chính. - Các trọng tài viên của các tổ chức trọng tài không phải là công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trừ một vài biệt lệ như ở Thái Lan, nhân viên Viện trọng tài thuộc Bộ Tư pháp được hưởng lương từ ngân sách nhà nước) [24]. Trọng tài viên chỉ tham gia giải quyết các vụ tranh chấp khi được các đương sự lựa chọn hoặc được trung tâm trọng tài chỉ định. Mức thu nhập của mỗi trọng tài viên vì vậy tùy thuộc rất nhiều vào uy tín của họ.
- Các tổ chức (trung tâm) trọng tài hoạt động trên nguyên tắc tự hạch toán, tự trang trải về tài chính, lấy thu bù chi; không phải là các tổ chức kinh doanh mà chỉ là các tổ chức phi lợi nhuận. Tuy là một tổ chức phi chính phủ nhưng các tổ chức trọng tài lại rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhà nước. Trước hết là của tòa án trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, cưỡng chế thi hành phán quyết,. Đối với những nước mới chuyển đổi như Việt Nam, các tổ chức trọng tài cần được hỗ trợ nhiều hơn cả về vật chất và pháp lý.
Mặt khác, trọng tài phi chính phủ thuộc đối tượng quản lý của nhà nước. Nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài thể hiện thông qua việc nhà nước cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động, việc phê chuẩn điều lệ của các trung tâm trọng tài; cấp và thu hồi thẻ trọng tài viên. z 12 Thứ hai, khác với tòa án, các trung tâm trọng tài tồn tại và hoạt động hoàn toàn độc lập với nhau. Giữa các trung tâm trọng tài không có mối quan hệ trực thuộc lẫn nhau ngoài quan hệ hợp tác.
Mỗi trung tâm đều có một vị trí bình đẳng với nhau cho dù đó là trọng tài trong nước hay trọng tài quốc tế. Các đương sự có thể thỏa thuận yêu cầu bất kỳ một trung tâm trọng tài nào đứng ra giải quyết tranh chấp với một đảm bảo chắc chắn rằng mọi phán quyết của các trung tâm trọng tài khác nhau đều có giá trị pháp lý như nhau. Mỗi trung tâm trọng tài có một bản quy tắc tố tụng riêng do trung tâm xây dựng, trong đó quy định đầy đủ các bước cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp và không được trái với các quy định của pháp luật.