Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TCTS ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG HĐTD VỚI NGÂN HÀNG 1. Lý luận chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 1. Khái niệm BPBĐ thực hiện nghĩa vụ Để có thể nắm rõ về những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến TCTS để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trước tiên cần khái quát được thế nào là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nắm bắt được các đặc điểm và các loại BPBĐ, để từ đó dẫn dắt hình thành các ý tưởng liên quan đến TCTS. Từ việc khái quát biện pháp bảo đảm trong phần lý luận, sẽ giúp hiểu rõ và nắm vững hơn về việc TCTS để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong các HĐTD, đối với các khoản cho vay của TCTD.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là hình thức các bên thương lượng để xác lập hiệu lực phòng ngửa nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn chặn, đảm bảo cho hậu quả có thể khắc phục đối với việc không thực hiện nghĩa vụ. Trong một mối quan hệ nghĩa vụ, người có quyền được chủ động yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực thi nghĩa vụ hoặc không được làm 1 công việc nhất định và chỉ khi nào công việc đó được thực hiện đúng thì người có quyền mới thoả mãn được lợi ích của mình. Tuy nhiên, về cách thức, biện pháp thực hiện nghĩa vụ và việc thực hiện hay không thực hiện lại phụ thuộc vào hành vi của người có nghĩa vụ. Vì thế, quyền chủ động của người có quyền rơi vào tình trạng bị động là phải lệ thuộc vào hành vi của người khác để thoả mãn yêu cầu của mình.
Một khi bên có nghĩa vụ không chịu thực thi hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì bên có quyền sẽ gửi yêu cầu nhà chức trách có thẩm quyền thực thi biện pháp cưỡng chế, yêu cầu bên vi phạm phải làm đúng theo nghĩa vụ. Dù vậy, nhiều khi vẫn không bảo đảm được quyền lợi của bên có quyền nếu bên vi phạm nghĩa vụ không có cung cấp tài sản để thực hiện nghĩa vụ. 10 BLDS năm 2015 cũng như các văn bản liên quan chưa đưa ra định nghĩa thế nào là “Biện pháp bảo đảm”. Tuy nhiên, qua nội hàm từ ngữ cũng như các quy định pháp luật, có thể hiểu rằng BPBĐ là những cách thức, giải pháp nhằm hỗ trợ, khẳng định, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, thỏa thuận một cách chắc chắn.
BPBĐ đi liền, không tách rời với nghĩa vụ chính trong hợp đồng, giao dịch chính. Trường hợp bên có nghĩa vụ không chịu thực hiện, làm chưa đúng, chưa đẩy đủ và có biểu hiện vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, thì bên có quyền có thể áp dụng BPBĐ đã thỏa thuận hoặc đề nghị nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng để yêu cầu bên có nghĩa vụ phải làm đúng nghĩa vụ đã cam kết nhằm bảo đảm quyền lợi cho mình. Để có thể khắc phục tình hình nêu trên và tạo cho các quan hệ nghĩa vụ ở vào trạng thái chủ động trong thực tế đối với bên có quyền được thừa hưởng quyền dân sự, luật pháp đã hướng cho các bên tự thương lượng đặt ra các BPBĐ việc thực thi các nghĩa vụ và trong giao kết hợp đồng. Thông qua các BPBĐ này, người có quyền sẽ có ưu thế hơn trong việc thực hiện các hành vi tác động trực tiếp đến tài sản, như quyền ràng buộc phía bên kia đảm bảo quyền lợi của mình khi họ không thực thi hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ lúc đến hạn.
Chẳng hạn, để đảm bảo cho việc có trách nhiệm trả nợ khi đến hạn của bên vay, đồng thời nếu không trả được nợ vay đúng hạn thì bên cho vay vẫn sẽ được thu hồi khoản vay, thì các bên thương thảo bên vay phải giao tài sản cho bên cho vay, còn nếu bên cho vay không giao tài sản đến hạn thì bên cho vay có phép xử lý tài sản nhằm mục đích thu hồi khoản vay, đôi bên thoả thuận với nhau để bên vay phải cung cấp cho bên cho vay 1 tài sản và bên cho vay được quyền xử lý TSBĐ đó để thu hồi khoản vay nếu bên vay khi đến thời hạn không trả đầy đủ nợ vay. Việc xác lập BPBĐ giữa các chủ thể với nhau được thực hiện thông qua một giao dịch dân sự, vì thể giao dịch dân sự này được gọi là giao dịch bảo đảm và quan hệ hình thành từ giao dịch bảo đảm được gọi là quan hệ bảo đảm. Vì vậy, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu theo 2 phương diện: “về mặt khách quan là sự quy định của luật pháp về các phương thức để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các 11 phương thức bảo đảm đó, về mặt chủ quan bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thể hiện sự thoả thuận giữa các bên trong lựa chọn sử dụng một trong các biện pháp đã được pháp luật quy định để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với tính chất tác động, dự phòng, đồng thời khắc phục và ngăn chặn những hậu quả không tốt do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra”. Căn cứ vào điều 12 Luật Ngân hàng thương mại của Đài Loan phiên bản năm 2019, thì khoản tín dụng có bảo đảm tức là khoản vay có TSBĐ, bao gồm nhưng không giới hạn thế chấp bằng động sản và BĐS; cầm cố bằng động sản hoặc quyền tài sản; Thương phiếu/hối phiếu phải thu từ các giao dịch kinh doanh của bên vay; và/hoặc việc bảo lãnh được kéo dài bởi cơ quan Chính phủ phụ trách Cục ngân khố, ngân hàng hoặc TCTD được Chính phủ ủy quyền.
Đặc điểm của các BPBĐ thực hiện nghĩa vụ Phụ thuộc vào nội dung, tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể, cũng như phụ thuộc vào điều kiện của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó mà mỗi một BPBĐ mang một đặc điểm riêng biệt. Mục đích của các BPBĐ được thể hiện thông qua các chức năng của từng biện pháp cụ thể. Mỗi một BPBĐ có đặc điểm và tính chất riêng biệt, nên chức năng của chúng không thể giống nhau hoàn toàn. Một chức năng riêng biệt có ở biện pháp này nhưng không có ở biện pháp khác.
Nhưng nếu nhìn một cách tổng thể thì các BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có ba chức năng nói chung: Chức năng tác động, chức năng dự phòng và chức năng dự phạt. Ngoài ra, tất cả các BPBĐ đều có các đặc điểm cụ thể riêng. Thứ nhất, các BPBĐ nhằm mục đích bổ sung cho nghĩa vụ chính. Các BPBĐ thực hiện nghĩa vụ này luôn gắn liền và phụ thuộc với một nghĩa vụ nào đó, mà không tồn tại độc lập riêng biệt.
Việc lệ thuộc này phơi bày ở điểm khi xuất hiện quan hệ nghĩa vụ chính thì mọi người mới cùng nhau thiết lập một BPBĐ. Nghĩa là việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập. Nội dung, hiệu lực của BPBĐ phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính. Vì vậy, người ta gọi nghĩa vụ phát sinh từ các BPBĐ là nghĩa vụ phụ.
Thứ hai, các BPBĐ đều vì mục tiêu đề cao trách nhiệm của đôi bên trong quan hệ nghĩa vụ. Theo đó, khi đặt ra BPBĐ, các bên nhằm mong muốn đạt được 12 việc đề cao ý thức trách nhiệm thực thi nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Mặc khác, ở nhiều trường hợp, các bên còn nhằm đạt mục đích đề cao ý thức giữa các bên trong giao kết hợp đồng. Ví dụ: biện pháp đặt cọc ràng buộc các bên phải thực hiện giao kết hợp đồng.
Thứ ba, đối tượng của các BPBĐ là những quyền lợi mang tính vật chất. Quyền lợi giữa các bên về nghĩa vụ có BPBĐ là các loại lợi ích vật chất. Quy luật về ngang giá biểu hiện qua các giao dịch tài sản thể hiện ở việc chỉ có lợi ích vật chất mới bao quát được các lợi ích vật chất. Chính vì thế, các bên thực thi quan hệ nghĩa vụ không thể sử dụng quyền nhân thân để làm đối tượng của BPBĐ.
Lợi ích về vật chất là đối tượng của các BPBĐ thường là các loại tài sản (vật có thực, tiền, giấy tờ biểu hiện giá trị của nó được bằng tiền và các quyền tài sản hoặc là một công việc phải làm). Các loại tài sản này cần có đủ các tính chất mà luật pháp đã yêu cầu đáp ứng về 1 đối tượng của nghĩa vụ nói chung. Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các BPBĐ không được vượt phạm vi nghĩa vụ đã được ấn định biểu hiện qua nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính. Khoản 1 Điều 293 của BLDS năm 2015 quy định "Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại." Như vậy về nguyên tắc, nếu như các bên không có thương lượng hoặc pháp luật chưa có quy định khác thì phạm vi bảo đảm sẽ bao gồm hết toàn bộ nghĩa vụ, nhưng một số trường hợp cũng có thể chỉ là đảm bảo một phần nghĩa vụ.
Ví dụ: "Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh". Phạm vi của bảo lãnh không lớn hơn phạm vi của nghĩa vụ, mặc dù về mặt thực tế bên có nghĩa vụ thường đưa 1 tài sản có giá trị lớn gấp nhiều lần so với giá trị của nghĩa vụ nhằm để bảo đảm việc thực thi nghĩa vụ. Tuy nhiên, cho dù giá trị của đối tượng bảo đảm có lớn hơn giá trị nghĩa vụ, nhưng suy cho cùng thì mục đích của việc bảo đảm đó thì cũng chỉ là vì mục đích để người có nghĩa vụ phải thực thi nghĩa vụ trong phạm vi đã giao kết. 13 Thứ năm, các BPBĐ nghĩa vụ chỉ được thực thi khi xảy ra sự vi phạm nghĩa vụ.
Cho dù các bên đã đặt ra một BPBĐ bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng BPBĐ đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện 1 cách đầy đủ.