mở đầu cho việc hình thành và phát triển mô hình QĐTCK tại Việt Nam. Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán được ban hành thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP. Nghị định 144/2003/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể rõ ràng hơn về QĐTCK và mô hình tổ chức của nó. Theo Nghị định này, QĐTCK vẫn được tổ chức theo mô hình quỹ tín thác đầu tư dạng hợp đồng với các chủ thể tham gia chủ yếu là công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và người đầu tư.
QĐTCK, Công ty quản lý quỹ phải có vốn điều lệ tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam. QĐTCK có thể là quỹ công chúng hoặc quỹ thành viên. Quỹ công chúng sau khi được thành lập được thực hiện việc huy động vốn thông qua việc phát hành chứng chỉ quỹ phải có nghĩa vụ niêm yết chứng chỉ quỹ trên thị trường giao dịch tập trung. Luật chứng khoán 2006 đã có những quy định cụ thể hơn và đầu đủ hơn về QĐTCK.
Luật chứng khoán quy định, QĐTCK được hiểu là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Với quy định này của Luật chứng khoán, QĐTCK không chỉ là QĐTCK dạng hợp đồng dạng tín thác đầu tư mà còn được thiết lập theo mô hình công ty – công ty đầu tư chứng khoán. Mô hình QĐTCK dù được thiết lập dưới dạng hợp đồng hay công ty đều có thể được thiết lập dưới dạng Quỹ đại chúng hay Quỹ thành z viên. Đây là cơ hội thuận lợi để phát triển mô hình QĐTCK trong điều kiện TTCK nước ta đang có những bước điều chỉnh theo hướng ngày càng hiện đại và chuyên nghiệp hơn.
Phân loại quỹ đầu tƣ chứng khoán Cho đến nay, trên thế giới xuất hiện khá nhiều loại hình QĐTCK. Tùy thuộc vào mức độ phát triển và tình hình của thị trường tài chính của mỗi quốc gia sẽ xuất hiện các loại hình của Quỹ tương ứng cũng như tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu có thể sử dụng các tiêu chí (căn cứ) khác nhau trong phân loại QĐTCK a) Căn cứ vào nguồn vốn huy động, QĐTCK gồm hai loại: - Quỹ đầu tƣ tập thể (quỹ công chúng) Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại.
- Quỹ đầu tƣ cá nhân (Quỹ thành viên) Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ. b) Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn, QĐTCK gồm - Quỹ đóng Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được z niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động. Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huy động vốn và quản lý. - Quỹ mở Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch do tính chất đặc thù của nó là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch.
Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam. c) Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ, QĐTCK gồm - Quỹ đầu tƣ dạng công ty Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lý quỹ.
Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô hình quỹ đầu tư dạng công ty hiện được áp dụng rộng rãi tại các nước có thị trường chứng khoán hình thành và phát triển từ lâu đời mà điển hình là thị trường chứng khoán Mỹ và Anh, chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của z UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân. Sơ đồ 1: Cơ chế hoạt động của quỹ đầu tƣ dạng công ty - Quỹ đầu tƣ dạng hợp đồng Quỹ đầu tư dạng hợp đồng còn được gọi là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Bản chất hoạt động của các quỹ tín thác đầu tư là dựa trên cơ sở quan hệ tín thác tài sản và hợp đồng tín thác được coi là một chứng từ pháp lý cơ bản để điều chỉnh hoạt động của các bên tham gia.
Một đặc điểm khác biệt cơ bản với mô hình công ty là quỹ đầu tư trong mô hình này không phải là một pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.
z Sơ đồ 2: Cơ chế hoạt động của quỹ đầu tƣ dạng hợp đồng 1. Đặc điểm của quỹ đầu tƣ chứng khoán So với các chủ thể tham gia TTCK, quỹ đầu tư chứng khoán có những đặc điểm riêng sau đây: Một là, QĐTCK hoạt động trên cơ sở quan hệ ủy thác tài sản, theo đó, nhà đầu tư – những người có tiền tạm thời nhàn rỗi chuyển giao tiền vốn của mình cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư hộ mình. Những nhà đầu tư chuyên nghiệp này là người có kiến thức, am hiểu thị trường giúp cho các nhà đầu tư riêng lẻ yên tâm hơn trong hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư thực hiện việc đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán bằng cách góp tiền vào quỹ thông qua việc mua chứng chỉ quỹ đầu tư.
Chứng chỉ quỹ đầu tư là cơ sở xác lập quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với tài sản của quỹ cũng như để phân chia lợi nhuận. Đây là điểm khác biệt giữa việc huy động vốn của QĐTCK với việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Bởi lẽ việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại là để thực hiện hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Các ngân hàng thương mại phải trả cho người gửi tiền một khoản phí/lãi suất khi sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay lại.
z Hai là, hoạt động của QĐTCK được thực hiện thông qua các công ty quản lý quỹ. Công ty quản lý quỹ là doanh nghiệp được tổ chức dưới mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần. Công ty quản lý quỹ thực hiện nghiệp vụ kinh doanh là quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư. Công ty quản lý quỹ thiết lập và điều hành mọi mặt hoạt động của QĐTCK, được giao quản lý tài sản và không ngừng gia tăng tài sản của quỹ.
Công ty quản lý quỹ được trả phí từ sự gia tăng tài sản của QĐTCK. Như vậy, có thể khẳng định QĐTCK và công ty quản lý quỹ tồn tại không thể thiếu nhau, cùng nương tựa vào nhau, hoạt động và tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động của QĐTCK được thực hiện trên cơ sở tập hợp các nguồn vốn đầu tư nhỏ thành lượng vốn đầu tư có quy mô lớn, được thống nhất quản lý, điều hành và sử dụng thông qua công ty quản lý quỹ. Công ty quản lý quỹ có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của QĐTCK.
Ba là, QĐTCK là loại quỹ đầu tư mà tỷ trọng vốn của quỹ được sử dụng chủ yếu vào để đầu tư kinh doanh chứng khoán. Nói một cách khác đi, vốn đầu tư của QĐTCK được dùng để kinh doanh chứng khoán. QĐTCK được hình thành trên cơ sở huy động tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư cá nhân có nhu cầu tham gia TTCK.