CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật quản lý chất thải nguy hại nói riêng là lĩnh vực tương đối mới so với các lĩnh vực pháp luật khác. Lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại, có một số công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau đã được công bố. Dưới góc độ quản lý chất thải nguy hại nói chung, có cuốn: “Quản lý chất thải nguy hại” của tác giả Trịnh Thị Thanh, Nguyễn Khắc Linh – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005, Giáo trình “Quản lý chất thải nguy hại” của tác giả Lâm Minh Triết – Nhà xuất bản Xây dựng năm 2006, “Tính toán tải lượng, dự báo phát sinh chất thải nguy hại từ 7 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và đề xuất các giải pháp cải thiện hệ thống quản lý chất thải nguy hại” của Nguyễn Thị Mỹ Linh, Lê Thị Hồng Trân, Trịnh Ngọc Đào – Trường Đại học Bách Khoa ĐHQG HCM năm 2009, Báo cáo khoa học “Quy hoạch hệ thống thu gom vận chuyển chất thải rắn công nghiệp và chất thải công nghiệp nguy hại cho các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2012,… các công trình này có phạm vi nghiên cứu rộng, nghiên cứu chủ yếu về hệ thống quản lý chất thải nguy hại, vấn đề xử lý chất thải nguy hại được đề cập đến, tuy nhiên không khai thác sâu về khía cạnh pháp lý. Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật bảo vệ môi trường về hoạt động quản lý và xử lý chất thải có một số công trình nghiên cứu, chủ yếu là các luận văn: Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Bích Thuỷ “ Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”; Khoá luận tốt nghiệp đại học của Phạm Thị Trang “ Pháp luật quản lý chất thải y tế, thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà 14 Nội”, Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thanh Thuỷ “ Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam” năm 2016, Luận văn Thạc sĩ của Lê Phương Linh “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội” năm 2013, Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Nhứt “Pháp luật về quản lý chất thải y tế, thực trạng tại Bình Thuận” năm 2019, Luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động làng nghề gây ra tại Việt Nam hiện nay” của TS Lê Kim Nguyệt năm 2014… Bên cạnh một số khoá luận tốt nghiệp của các sinh viên và luận văn thạc sĩ, luận văn tiến sĩ thì chỉ có một số bài viết về vấn đề này như bài viết của Nguyễn Hoà Bình trên tạp chí Bảp vệ môi trường năm 2000 và 2002 của Cục môi trường: “Một số công việc cần triển thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”, “Thực hiện công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại”; bài viết của Lê Kim Nguyệt đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 27 “Vấn đề thực thi pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam hiện nay” năm 2011.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, luận văn đề cập đến các vấn đề bảo vệ môi trường đặc biệt trong công tác quản lý chất thải nguy hại cũng như xử lý chất thải nguy hại như: - “Hazardous Waste Management: Second Edition” của tác giả Michael D. Evans năm 2010; - “Industrial hazardous waste in the framework of EU and international legislation” của Vassilis J. Inglezakis, Antonis Zorpas năm 2011; - “Critical review of medical waste legislation in Spain” của E.López năm 2010; 15 - “Household hazardous waste management: A review” của Vassilis J.Inglezakis, Konstantinos Moustakas năm 2014; - “Hazardous Waste Management in Portugal: An Overview” của Nuno Couto Valter Silva E.Rouboa năm 2013; - “Environmental pollution of E-waste: generation, collection, legislation, and recycling practices in Mexico” của Claudia ESaldaña-Durán Gerardo Bernache-Pérez SaraOjeda-Benitez Samantha E.Cruz-Sotelo năm 2020 - “The Management of Hazardous Solid Waste in India: An Overview” của Leelavathy Karthikeyan, Venkatesan Madha Suresh, Vignesh Krishnan, Terry Tudor and Vedha Varshini năm 2018… Kết luận: Những công trình nghiên cứu đã đề cập trên, đánh giá đến tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động quản lý chất thải nguy hại, đánh giá hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia này. Một số nghiên cứu còn chỉ ra nguyên nhân và những tồn tại, bất cập của pháp luật của các quốc gia này.
16 CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 2. Khái quát về xử lý chất thải nguy hại Chất thải có thể là sản phẩm phụ của một quá trình sản xuất hoặc đơn giản là một sản phẩm thương mại được sử dụng trong doanh nghiệp - chẳng hạn dung dịch tẩy rửa hoặc axít đổ ắc-quy và sản phẩm đó sẽ bị vứt bỏ. Thậm chí các vật liệu có thể tái chế được hoặc có thể được tái sử dụng dưới một số hình thức (chẳng hạn đốt các dung môi để làm nhiên liệu) có thể được xem là chất thải. Chất thải là gì? Theo khoản 18 Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường 2020 có giải thích về khái niệm chất thải là: “vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Và tại khoản 20 có nêu về khái niệm chất thải nguy hại: “chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”. ➔ Có thể nói chất thải nguy hại có thể được tìm thấy trong hầu hết các chất thải công nghiệp, chất thải gia dụng, chất thải sinh hoạt,. nếu chúng ta không có cách xử lý chúng hợp lý và an toàn. ➢ Điều cần chú ý ở đây là chất thải y tế là chất thải như thế nào và tai sao nó lại được liệt vào danh sách những chất thải nguy hại? Đầu tiên cần làm rõ định nghĩa chất thải y tế là gì? Chất thải y tế là bất kỳ chất thải nào có chứa chất nhiễm trùng (hoặc vật liệu có khả năng truyền nhiễm).
Bao gồm chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế như văn phòng bác sĩ, bệnh viện, phòng khám nha khoa, phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu y khoa và phòng khám thú y. 17 Thứ hai, nói chất thải y tế là chất thải nguy hiểm bởi nó có thể chứa chất lỏng cơ thể như máu hoặc các chất gây ô nhiễm khác. Đạo luật Theo dõi Chất thải Y tế năm 1988 định nghĩa chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình nghiên cứu y học, xét nghiệm, chẩn đoán, tiêm chủng, hoặc điều trị cho người hoặc động vật. Một số ví dụ như thủy tinh, băng gạc, găng tay, các vật dụng sắc nhọn đã bị loại bỏ như kim hoặc dao mổ, gạc và khăn giấy.
85% chất thải y tế được cho là chất thải không nguy hại và chất thải tổng hợp. 15% còn lại là nguy hại và có thể là lây nhiễm, phóng xạ hoặc độc hại. Chất thải nguy hại có thể chứa các vi sinh vật gây hại có thể lây nhiễm cho nhân viên y tế, bệnh nhân và cộng đồng. Bởi vậy chất thải y tế còn có một số tên gọi khác mà tất cả đều có cùng một định nghĩa cơ bản.
Tất cả các tên gọi dưới đây đề cập đến chất thải được tạo ra trong quá trình chăm sóc sức khoẻ hoặc bị nhiễm hoặc có khả năng bị nhiễm bởi các vật liệu truyền nhiễm như: Chất thải y tế; Chất thải sinh học; Chất thải lâm sàng; Chất thải nguy hiểm sinh học; Chất thải y tế có kiểm soát; Chất thải y tế truyền nhiễm; Chất thải từ việc chăm sóc sức khỏe. Vậy làm thế nào để xử lý những chất thải nguy hại đó? Hiện nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, có khá nhiều phương pháp xử lý chất thải nguy hại được ứng dụng. Mỗi phương pháp áp dụng cho từng loại chất thải riêng và đều có sự khác nhau về hiệu quả, độ an toàn cũng như chi phí thực hiện. Cụ thể, một số phương pháp xử lý chất thải nguy hại có thể kể đến như: • Một: Phương pháp sinh học, dùng để xử lý đất bị ô nhiễm, bùn thải… Mục đích của phương pháp này là phân hủy và làm biến đổi chất hữu cơ có trong chất thải để làm giảm ảnh hưởng của nó đối với môi trường.
Đặc biệt lưu ý, toàn bộ quá trình ủ sinh học cần được kiểm soát nghiêm ngặt. 18 • Hai: Phương pháp đốt, chất thải nguy hại được cho vào lò đốt, khí thải trước khi thoát ra môi trường được làm sạch, phần xỉ than sẽ được đem đi chôn lấp. • Ba: Phương pháp chôn lấp, phương pháp này được áp dụng cho một số loại chất thải như xỉ tro, bùn thải… mỗi hố chôn tương ứng với một loại chất thải nguy hại đã được quy định. Chất thải sau khi được đổ đầy sẽ được phủ chống thấm, đầm nén lớp đất mặt, sau đó đổ một lớp bê tông để cách ly chất thải với môi trường.
Phần nước rỉ từ chất thải nguy hại tiếp tục được thu gom để đưa đi xử lý. • Bốn: Phương pháp tái chế, đây là phương pháp xử lý chất thải nguy hại như đồ điện tử, nhựa, giấy, thủy tinh… 2. Nguồn pháp luật a. Công ước quốc tế - Công ước BASEL về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại (CTNH) và tiêu hủy chúng.
- Công ước STOCKHOLM về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (các chất POP). - Công ước MARPOL đưa ra những quy định nhằm ngăn chặn ô nhiễm gây ra do vận chuyển hàng hóa là dầu mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại, cũng như do nước, rác và khí thải ra từ tàu. - Nghị định thư Montréal về các chất làm suy giảm tầng ozon. - Công ước Minamata nhằm tới việc bảo vệ sức khỏe con người và môi trường từ việc xả thải thủy ngân và hợp chất thủy ngân bởi hoạt động của con người.
Tập quán quốc tế c. Án lệ - Foster and Elam v. - State of Georgia v. Tennessee Copper Company and Ducktown Sulphur, Copper and Iron Company, Ltd.
Bier et al. Mines de Potasse d’Alsace S. - Reservations to the Convention on Genocide (Advisory Opinion), 1951 I.