CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng 1. Khái niệm nợ của tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là TCTD) kinh doanh các dịch tài chính, thông qua các sản phẩm chủ yếu từ hoạt động cấp tín dụng. Có thể xem, nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng của TCTD cũng giống như nghĩa vụ tài chính trong quan hệ dân sự - kinh tế,.
Tuy nhiên, vì tính chất đặc thù, nên cũng có nhiều sự khác biệt giữa chúng, cụ thể: Theo Khoản 2, Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy đinh khoản nợ là số tiền tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã gửi, giải ngân từng lần theo thỏa thuận đối với khoản nợ quy định tại Thông tư này. Cũng trong thông tư này, thì Điều 1 Khoản 1 quy định nợ được phát sinh từ hoạt động cho vay; cho thuê tài chính; chiết khấu; tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá trị khác; bao thanh toán; các khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng…Thông tư 02/2013/TT- NHNN đã chỉ rõ “nợ” phát sinh từ hoạt động kinh doanh của TCTD chính là số tiền mà TCTD đã gửi, hoặc giải ngân cho khách hàng, đối tác thông qua hoạt động cấp tín dụng. Về mặt lý luận thì nợ là một loại nghĩa vụ tài sản giữa bên cấp tín dụng và bên nhận tín dụng (khách hàng vay). Con nợ phải có nghĩa vụ trả khoản nợ bằng tài sản của mình và bên chủ nợ có quyền thu hồi nợ.
Nợ sẽ đi kèm với quyền đòi nợ, đây là một loại tài sản thể hiện dưới dạng quyền tài sản và vì thế có thể định giá và chuyển giao. Chủ nợ, cụ thể ở đây là TCTD có thể chuyển giao quyền đòi nợ thông qua các giao dịch dân sự, thương mại với các chủ thể có nhu cầu. Mặc dù nợ nói chung và nợ của TCTD nói riêng mang bản chất rủi ro, tiềm ẩn nguy cơ không thể thu hồi, nhưng nếu được đánh giá khách quan thì nợ vẫn là một loại tài sản, khách thể của giao dịch mua bán, chuyển nhượng,… và đem lại lợi nhuận cho các tổ chức, cá nhân có khả năng khai thác. Dưới góc độ pháp lý, thì nợ phát sinh từ số tiền mà TCTD cấp cho bên nhận tín dụng với mục đích, thời gian,… theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Khoản 8 nợ này sẽ bao gồm gốc, lãi và các chi phí để khoản vay được hoàn tất. Nợ của TCTD là một quan hệ pháp luật giữa TCTD và bên nhận tín dụng và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Pháp luật cung cấp cho TCTD các quyền xử lý đối với khoản nợ hoặc chuyển giao khoản nợ khi bên nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. TCTD có quyền khởi kiện con nợ ra các cơ quan tài phán để bảo vệ quyền lợi và đồng thời có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành khi bản án có hiệu lực.
Vì thế, quyền đòi nợ đi kèm theo khoản nợ cũng được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quyền đòi nợ của TCTD là một quyền đối nhân, vì TCTD chỉ có quyền yêu cầu con nợ thanh toán, chứ không có quyền thi hành, xử lý trực tiếp đối với tài sản của con nợ. Bên cạnh đó, thanh toán khoản nợ cho TCTD là nghĩa vụ của con nợ. Nghĩa vụ này phát sinh từ thời điểm hợp đồng tín dụng có hiệu lực và khách hàng nhận được khoản giải ngân từ TCTD.
Xét trên khía cạnh pháp lý thì nghĩa vụ thanh toán khoản nợ của bên nhận tín dụng gắn liền với quyền đòi nợ của TCTD. Nợ của TCTD phản ánh bản chất trái ngược nhau của hai chủ thể về cùng một đối tượng, một bên có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ và bên còn lại có quyền đòi nợ. Khách hàng được cấp tín dụng bởi TCTD thì TCTD có quyền thực hiện nghiệp vụ của mình để thu hồi khoản nợ hoặc chuyển nhượng cho bên thứ ba để thu hồi khoản nợ. TCTD bán nợ thì quyền đòi nợ sẽ chuyển giao cho bên mua nợ.
Khi chuyển giao chỉ thay đổi chủ thể có quyền chứ không làm thay đổi bản chất nghĩa vụ của con nợ và quyền thu hồi nợ này. Như vậy, bản chất pháp lý nợ của TCTD thì xoay quanh 3 yếu tố: (i) quyền đòi nợ là quyền tài sản; (ii) nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay; (iii) quyền đòi nợ của TCTD. Vì thế, qua phân tích, thì có thể định nghĩa như sau: “Nợ của tổ chức tín dụng là một quyền tài sản bao gồm gốc, lãi và các chi phí để khoản vay được hoàn tất mà cá nhân, tổ chức phải có nghĩa vụ thanh toán tại một thời điểm xác định theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng” 1. Khái niệm hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng Trong nhiều năm qua, hệ thống các TCTD Việt Nam và trên thế giới đã có những bước phát triển vượt bậc, kéo theo đó là những hệ lụy, rủi ro luôn tiềm ẩn, chực chờ đó là những khoản nợ nghi ngờ có khả năng mất vốn – hay còn gọi là nợ xấu.
Chính vì thế, nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống các TCTD trong xuyên suốt gần 20 năm qua luôn là hướng tới giải quyết các khoản nợ nghi ngờ có khả năng mất vốn này, đưa tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn. Việc hoạt động mua bán nợ của TCTD 9 hình thành như một hoạt động tất yếu để giải quyết tình trạng này hoặc đôi lúc chỉ để giảm tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro, tăng giới hạn cho vay của TCTD. Theo Bộ luật Dân sự thì nợ được xem là nghĩa vụ, thì hoạt động mua bán nợ là chuyển giao quyền yêu cầu. Trong quan hệ nghĩa vụ, thì chuyển giao quyền yêu cầu là sự thỏa thuận giữa bên thứ ba (bên thế quyền) nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho bên thứ ba đó.
Bên thế quyền là chủ thể mới, có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ đối với mình2. Hoạt động mua bán nợ phát sinh từ hoạt động tín dụng chính là mua bán tài sản vì nợ chính là tài sản hay cụ thể hơn là quyền tài sản. Với quy định pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu hiện nay thì quan hệ này được xây dựng trên nền tảng thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể, ở đây là TCTD bán nợ và bên mua nợ. Tức là trong quan hệ này, thì TCTD có nghĩa vụ chuyển giao quyền đòi nợ và quyền yêu cầu con nợ thanh toán tiền mua nợ, đồng thời bên mua nợ có nghĩa vụ thanh toán tiền mua nợ và có quyền quyết định đối với khoản nợ.
Đây là quan hệ song vụ và theo pháp luật hiện nay quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được thể hiện trong hợp đồng. Trong khi đó, theo quy định pháp luật ngân hàng tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì mua bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với skhoarn nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ. Tức là dưới góc độ pháp lý, thì hoạt động mua bán nợ của TCTD là việc thỏa thuận bằng văn bản việc chuyển giao lại một phần hay toàn bộ quyền đòi nợ của khoản nợ từ bên TCTD sang cho bên mua nợ và trở thành chủ nợ mới. Cụ thể hơn, thì việc chuyển giao quyền đòi nợ này đối với các khoản nợ còn dư nợ hoặc đang theo dõi tại ngoại bảng của TCTD cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ.
Quyền đòi nợ của TCTD chính là một loại tài sản, thế nên việc chuyển giao quyền đòi nợ phải được thực hiện như một giao dịch mua bán tài sản như Bộ luật Dân sự và các quy định của pháp luật về ngân hàng. Đối tượng của việc chuyển giao và việc chuyển giao mang đầy đủ tính chất của một giao dịch mua bán tài sản. Như vậy, lúc này, có sự xuất hiện đầy đủ của chủ thể (hai bên giao kết hợp đồng), khách thể (tài sản – quyền đòi nợ), nội dung (quyền và nghĩa vụ các bên theo quy định pháp 2 Lê Đình Nghị (2011), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Nxb Giáo dục Việt Nam Hà Nội 10 luật) như vậy có thể kết luật hoạt động mua bán nợ của TCTD là một quan hệ pháp luật. Qua phân tích trên, thì có thể thấy bản chất pháp lý của hoạt động này thì xoay quanh ba yếu tố: (i) Đối tượng chuyển giao: là khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay của các TCTD; (ii) Chủ thể tham gia: TCTD bán nợ và bên mua nợ; (iii) Quyền và nghĩa vụ của TCTD bán nợ và bên mua.
Qua phân tích, tác giả xin cho rằng hoạt động mua bán nợ của TCTD có thể được hiểu là: “Hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng là sự thỏa thuận bằng hợp đồng giữa bên bán nợ là tổ chức tín dụng và bên mua nợ, trong đó đối tượng được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ của tổ chức tín dụng và quyền đối với tài sản bảo đảm (nếu có)” 1. Đặc điểm hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng Hoạt động mua bán nợ của TCTD với chủ thể chính ở đây là TCTD có những đặc điểm như sau: - Thứ nhất, sự xuất hiện của TCTD là mang tính bắt buộc và là chủ thể trung tâm của hoạt động. Hoạt động mua bán nợ của TCTD phải gắn liền với TCTD – được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng. Các quy định được ban hành liên quan đến hoạt động này đều được thiết kế để phù hợp với chủ thể bên bán nợ là TCTD.
Trong hoạt động mua bán nợ này TCTD tham gia với vai trò là bên bán nợ với mục đích chính là ngăn ngừa, xử lý rủi ro tài chính chuẩn bị hoặc đang hoặc đã xảy ra.