Pháp Luật Lao Động và Người Khuyết Tật ở Việt Nam: Thực Trạng và Giải Pháp

Luận văn thạc sĩ pháp luật về lao động là người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay phân tích chính sách và thực tiễn hỗ trợ người khuyết tật.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Lao Động và Người Khuyết Tật Việt Nam

Lao động là hoạt động thiết yếu của con người. Bất kỳ ai có khả năng, bao gồm cả người khuyết tật, đều có quyền tự do lao động. Người khuyết tật được xem là nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho họ có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên thế giới có hơn 1 tỷ người khuyết tật, tương đương khoảng 15% dân số. Tại Việt Nam, lao động khuyết tật chiếm khoảng 7,8% tổng dân số. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật về dạy nghề, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm cho người khuyết tật. Việt Nam đã gia nhập Công ước 159 của ILO, khẳng định cam kết bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật không bị phân biệt đối xử. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn những điểm chưa tương thích và thực tế còn nhiều khó khăn.

1.1. Định Nghĩa và Phân Loại Người Khuyết Tật Theo Pháp Luật

Theo WHO, có ba mức suy giảm: khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật. Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết về tâm lý hoặc/và sinh lý, dẫn đến hạn chế trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật định nghĩa người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan. Pháp luật Việt Nam, thông qua Luật Người Khuyết Tật năm 2010, chính thức sử dụng khái niệm người khuyết tật và quy định về các dạng tật và mức độ khuyết tật.

1.2. Quyền và Nghĩa Vụ Cơ Bản của Người Khuyết Tật Lao Động

Người khuyết tật có quyền tham gia lao động, được bảo vệ sức khỏe, an toàn lao động và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Họ cũng có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật lao động, nội quy của doanh nghiệp và hoàn thành công việc được giao. Pháp luật Việt Nam đảm bảo quyền bình đẳng trong lao động, không phân biệt đối xử với người khuyết tật và tạo điều kiện để họ phát huy khả năng của mình.

II. Thực Trạng Việc Làm Cho Người Khuyết Tật Vấn Đề và Thách Thức

Mặc dù có nhiều nỗ lực, thực trạng việc làm của người khuyết tật vẫn còn nhiều khó khăn. Người khuyết tật gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay ưu đãi để học nghề hoặc mở cơ sở sản xuất, kinh doanh. Tỷ lệ người khuyết tật tìm được việc làm sau đào tạo nghề còn thấp. Nhiều doanh nghiệp viện lý do để từ chối tuyển dụng người khuyết tật, mặc dù pháp luật đã có quy định cụ thể về việc không được từ chối tuyển dụng nếu họ đáp ứng đủ tiêu chuẩn. Vẫn còn tồn tại sự phân biệt đối xử và thiếu môi trường làm việc thân thiện, phù hợp với người khuyết tật.

2.1. Rào Cản Trong Tiếp Cận Việc Làm Của Người Khuyết Tật

Các rào cản bao gồm: thiếu thông tin về cơ hội việc làm, thiếu kỹ năng phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội, và sự kỳ thị, phân biệt đối xử từ nhà tuyển dụng và đồng nghiệp. Khó khăn của người khuyết tật khi tìm việc còn đến từ cơ sở vật chất chưa đảm bảo, thiếu phương tiện hỗ trợ di chuyển và làm việc.

2.2. Phân Tích Số Liệu Thống Kê Về Tình Hình Việc Làm Của NKT

Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ người khuyết tật có việc làm còn thấp so với tỷ lệ người không khuyết tật. Mức lương trung bình của người khuyết tật cũng thấp hơn so với người không khuyết tật. Phần lớn người khuyết tật làm việc trong các ngành nghề giản đơn, thu nhập thấp và không ổn định. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá chính xác thực trạng việc làm của người khuyết tật và xác định các giải pháp can thiệp hiệu quả.

2.3. Vi Phạm Quyền Lao Động Của Người Khuyết Tật Các Hình Thức Phổ Biến

Các hình thức vi phạm phổ biến bao gồm: từ chối tuyển dụng, trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu, không đảm bảo an toàn lao động, phân biệt đối xử trong quá trình làm việc, và sa thải trái pháp luật. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền của người khuyết tật trong lao động.

III. Chính Sách Hỗ Trợ Việc Làm Cho Người Khuyết Tật Đánh Giá

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người khuyết tật trong lĩnh vực lao động, bao gồm: hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm, và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, như: thủ tục hành chính phức tạp, nguồn lực tài chính hạn hẹp, và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

3.1. Đánh Giá Hiệu Quả Các Chương Trình Đào Tạo Nghề Cho NKT

Cần đánh giá lại chương trình đào tạo nghề hiện tại, đảm bảo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động và khả năng của người khuyết tật. Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp để tạo cơ hội thực tập và việc làm cho người khuyết tật. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và trang thiết bị dạy học.

3.2. Ưu Đãi Thuế Cho Doanh Nghiệp Sử Dụng Lao Động Là NKT Thực Tiễn

Cần rà soát và sửa đổi các quy định về ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật, đảm bảo tính khả thi và hấp dẫn. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách để doanh nghiệp hiểu rõ và thực hiện đúng quy định. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

3.3. Hỗ Trợ Tìm Kiếm Việc Làm Cho Người Khuyết Tật Giải Pháp

Cần tăng cường hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật, kết nối họ với các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về người khuyết tật và nhu cầu việc làm của họ. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ việc làm trực tuyến và tại cộng đồng.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật và Chính Sách Về Lao Động NKT

Để cải thiện tình hình, cần có các giải pháp việc làm cho người khuyết tật đồng bộ và toàn diện. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính tương thích với các công ước quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Tăng cường nguồn lực tài chính và nhân lực cho công tác hỗ trợ người khuyết tật. Nâng cao nhận thức của xã hội về quyền và năng lực của người khuyết tật.

4.1. Sửa Đổi Bổ Sung Luật Lao Động và Luật Người Khuyết Tật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật trong Bộ luật Lao động và Luật Người Khuyết Tật. Cụ thể hóa các quy định về môi trường làm việc thân thiện, phù hợp với người khuyết tật. Tăng cường chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm quyền lao động của người khuyết tật.

4.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế và Học Hỏi Kinh Nghiệm

Cần tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế và các quốc gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ người khuyết tật lao động. Học hỏi kinh nghiệm về xây dựng pháp luật, chính sách và triển khai các chương trình hỗ trợ hiệu quả. Tham gia các diễn đàn quốc tế để chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực này.

4.3. Nâng Cao Năng Lực Cho Người Khuyết Tật Để Tìm Kiếm Việc Làm

Cần tăng cường các chương trình đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng tìm kiếm việc làm và kỹ năng thích ứng với môi trường làm việc cho người khuyết tật. Hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận thông tin về thị trường lao động và các cơ hội việc làm. Tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia các hoạt động xã hội và phát triển bản thân.

V. Môi Trường Làm Việc Thân Thiện Yếu Tố Quan Trọng Cho NKT

Xây dựng môi trường làm việc thân thiện với người khuyết tật là yếu tố then chốt để đảm bảo quyền lao động và sự hòa nhập của họ. Điều này bao gồm việc cải thiện cơ sở vật chất, cung cấp các phương tiện hỗ trợ, tạo điều kiện làm việc linh hoạt và xây dựng văn hóa doanh nghiệp tôn trọng, bình đẳng.

5.1. Tiêu Chuẩn Tiếp Cận Cho Người Khuyết Tật Tại Nơi Làm Việc

Cần xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn tiếp cận cho người khuyết tật tại nơi làm việc, bao gồm: lối đi, nhà vệ sinh, thang máy, và các thiết bị hỗ trợ khác. Đảm bảo rằng người khuyết tật có thể dễ dàng di chuyển và sử dụng các tiện ích tại nơi làm việc.

5.2. Cải Thiện Cơ Sở Vật Chất và Trang Thiết Bị Hỗ Trợ

Cần đầu tư vào việc cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ cho người khuyết tật tại nơi làm việc, như: bàn ghế điều chỉnh độ cao, phần mềm đọc màn hình, và các thiết bị trợ thính. Đảm bảo rằng người khuyết tật có đủ công cụ và phương tiện để thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả.

5.3. Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tôn Trọng và Bình Đẳng

Cần xây dựng văn hóa doanh nghiệp tôn trọng và bình đẳng đối với người khuyết tật. Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cho nhân viên về quyền và năng lực của người khuyết tật. Khuyến khích sự tham gia của người khuyết tật vào các hoạt động của doanh nghiệp.

VI. Tương Lai Pháp Luật Lao Động và Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Pháp luật lao động về người khuyết tật tại Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và đảm bảo quyền bình đẳng của người khuyết tật. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và doanh nghiệp để tạo ra một môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ người khuyết tật phát huy tối đa khả năng của mình.

6.1. Đánh Giá Hiệu Quả Chính Sách Về Lao Động Đối Với NKT

Cần thường xuyên đánh giá hiệu quả chính sách về lao động đối với người khuyết tật để kịp thời điều chỉnh và bổ sung. Sử dụng các chỉ số đánh giá khách quan và minh bạch để đo lường tác động của chính sách đến đời sống của người khuyết tật.

6.2. Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Lao Động Đối Với Người Khuyết Tật

Nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm quốc tế về lao động đối với người khuyết tật, đặc biệt là từ các quốc gia có hệ thống pháp luật và chính sách tiên tiến. Tham khảo các mô hình việc làm thành công cho người khuyết tật trên thế giới.

6.3. Tăng Cường Sự Tham Gia Của NKT Vào Thị Trường Lao Động

Tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật và chính sách liên quan đến lao động. Lắng nghe ý kiến của người khuyết tật và các tổ chức đại diện của họ để đảm bảo rằng pháp luật và chính sách đáp ứng nhu cầu thực tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/06/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật về lao động là người khuyết tật ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Người khuyết tật 1. Khái niệm Người khuyết tật, là một trong các nhóm người dễ bị tổn thương cần được ưu tiên và bảo vệ. Theo WHO thì NKT có ba mức suy giảm là: “Khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) [56, tr.

Khiếm khuyết là tình trạng mất mát hoặc không như bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn về tâm lý hoặc/và sinh lý của cấu trúc cơ thể con người. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động hằng ngày, là hậu quả của sự khiếm khuyết gây ra và cần các biện pháp can thiệp để khắc phục nhược điểm. Còn tàn tật là tình trạng bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh tác động lên tình trạng khuyết tật của họ”. Như vậy có thể hiểu, NKT là người bị khiếm khuyết về tâm lý hoặc/và sinh lý các bộ phận cơ thể người dẫn đến sự hạn chế trong thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Cách hiểu này cũng gần giống với cách hiểu trong Đạo luật người Mỹ khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA): “Khuyết tật là sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống của một cá nhân và được ghi nhận trong hồ sơ về sự suy giảm” [52, tr. Pháp luật các nước cũng giới hạn rõ ràng về thời gian khiếm khuyết kéo dài là bao lâu thì sẽ được xem là NKT để phân biệt giữa NKT với người bị suy giảm chức năng tạm thời. Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật do Liên Hợp Quốcthông qua vào ngày 13/3/2007 định nghĩa: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Cách định nghĩa này tương tự cách sử dụng thuật ngữ “Người khuyết tật” tại khoản 1, Điều 1 Công ước số 7 159 của ILO về tài thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người khuyết tật năm 1983: “Thuật ngữ người có khuyết tật dùng để chỉ người mà triển vọng tìm được một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về mặt nghề nghiệp, đều bị giảm sút một cách rõ rệt, do một sự khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần được công nhận rõ ràng”.

Ở Việt Nam, khái niệm NKT chỉ mới được sử dụng vào khoảng năm 2006, còn về trước đó chúng ta sử dụng khái niệm “người tàn tật”, thậm chí gọi gộp “người tàn tật khuyết tật” để nói về những người bị khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng. Cụ thể, trong Pháp lệnh số 06/1998/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Quốc hội về Người tàn tật, tại Điều 1 có ghi nhận và giải thích: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Tuy nhiên có thể nhìn thấy rằng, luật pháp quốc tế không cho rằng cách gọi tàn tật là đúng, vì giữa người tàn tật và NKT là hai khái niệm khác nhau. Theo quan điểm của Ủy ban về các quyền của người khuyết tật, NKT trở thành “tàn tật” là vì do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác của xã hội.

Do đó, việc đánh đồng hai khái niệm “tàn” và “khuyết” là một sẽ làm hạn chế sự tham gia và hòa nhập vào cộng đồng của người khuyết tật.2010, Quốc hội chính thức thông qua LNKT thay thế cho Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, từ đây khái niệm NKT chính thức được thừa nhận và sử dụng rộng rãi: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm này được sự dụng rộng rãi trong hầu hết các văn bản điều chỉnh về người khuyết tật sau này, ví dụ như Bộ luật lao động năm 2012, Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật. Như vậy, NKT là người khiếm khuyết về bộ phận cơ thể dẫn đến bị hạn chế trong quá trình tham gia vào các hoạt 8 động hàng ngày. Cũng như các nước Anh, Mỹ, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận người bị khiếm khuyết về tinh thần và trí tuệ là người khuyết tật.

Cụ thể là tại Điều 3 LNKT năm 2010 có quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật, cụ thể: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ… Vì nhìn nhận từ thực tế thì những người bị suy giảm về tinh thần và trí tuệ, nhất là trẻ em cũng gặp rất nhiều rào cản trong sinh hoạt và hòa nhập cùng cộng đồng, chẳng hạn trẻ em mắc: bệnh tự kỉ, hội chứng tăng động rối loạn, tâm thần phân liệt… Các khiếm khuyết này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển và tăng trưởng bình thường của cá nhân, dễ có những hành vi không kiểm soát được. Từ những phân tích trên, có thể hiểu “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần dẫn đến suy giảm lâu dài về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày”. Đặc điểm người khuyết tật Thứ nhất, NKT là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần. Một người bị xem là khuyết tật khi người đó bị khiếm khuyết về các bộ phận trên cơ thể hoặc/và tinh thần, trí tuệ.

Sự khiếm khuyết đó có thể vì nhiều nguyên nhân như: bẩm sinh, bệnh tật, tai nạn hay nguyên nhân đến từ chiến tranh, thảm họa thiên nhiên… Điều 3, LNKT 2010 và Điều 2, Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LNKT quy định cụ thể về các dạng tật mà NKT có thể mắc phải bao gồm: Một là, khuyết tật vận động. Khuyết tật vận động là một dạng khiếm khuyết làm cho NKT suy giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. NKT vận động thường không thể tự mình hoặc gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hà ng ngày như người bình thường. Họ chủ yếu phải nhờ sự giúp đỡ của người khác hoặc máy móc hỗ trợ mới có thể sinh hoạt.

Hai là, khuyết tật nghe, nói. Khuyết tật nghe, nói là tình trạng suy giảm hoặc 9 mất hoàn toàn chức năng nghe, nói hoặc cả hai, không thể phát âm thành tiếng, câu rõ ràng và nghe hiểu dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói với những người xung quanh. Ba là, khuyết tật nhìn. Khuyết tật nhìn là tình trạng cá nhân bị giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường.

Tuy nhiên, so với khái niệm này thì người cận thị nặng cũng có thể xem là NKT vì họ cũng bị giảm về khả năng nhìn, cảm nhận ánh sáng, màu sắc, sự vật. Theo WHO định nghĩa thì khuyết tật nhìn là tình trạng suy giảm khả năng nhìn ở một mức độ nhất định gây ra những vấn đề không thể khắc phục bằng phương tiện hỗ trợ thông thường như kính, mà sau khi điều chỉnh thị lực tốt nhất kém hơn 20/40 hoặc 20/60 theo thang điểm thị lực [56, tr. Bốn là, khuyết tật thần kinh, tâm thần. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.

Năm là, khuyết tật trí tuệ; khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc như người thường. Thứ hai, khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần của NKT phải là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm lâu dài về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hằng ngày Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật (DDA) do Quốc hội Anh ban hành - nay chỉ có hiệu lực ở Bắc Ireland, khi xét về mặt thời gian tác động của những khiếm khuyết dẫn đến suy giảm về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt của NKT thì sự suy giảm đó phải kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài, nếu ít hơn 12 tháng bình thường thì không được coi là NKT, trừ khi là bị tái phát đi tái phát lại [49, tr. Nghĩa là, NKT thì ngoài sự khiếm khuyết về cơ thể hoặc/và tinh thần, thì còn phải đáp ứng điều kiện về mặt thời gian mà sự suy giảm về cơ thể hoặc/và tinh thần đó gây ra cho họ dẫn đến những hạn chế trong cuộc sống. Khoảng thời gian suy giảm đó phải đủ lâu để làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt 10 thông thường cũng như là khả năng tự lao động nuôi sống bản thân của chính NKT đó.

Pháp luật Việt Nam không giới hạn cụ thể sự suy giảm kéo dài bao lâu thì được xem là khuyết tật. Tuy nhiên, dựa vào các quy định về “xác nhận khuyết tật” tại chương II, LNKT năm 2010 và mẫu phiếu 01 xác định mức độ khuyết tật quy định tại Thông tư số 01/2019/TT-BLĐTBXH về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện thì có thể thấy tình trạng khiếm khuyết được đánh giá là phải diễn ra rất lâu dài, không có cơ hội phục hồi hoặc có nhưng tỉ lệ phục hồi rất thấp. Chính sự suy giảm lâu dài đó là rào cản hạn chế NKT trong thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày và hòa nhập với cộng đồng. Ở Mỹ, lần đầu tiên cụm từ khuyết tật được sử dụng trong các văn bản pháp luật là vào năm 1880 và khái niệm lúc bấy giờ cũng khác so với cách định nghĩa về NKT như hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Pháp Luật Lao Động và Người Khuyết Tật tại Việt Nam: Thực Trạng và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của pháp luật lao động liên quan đến người khuyết tật tại Việt Nam. Tài liệu phân tích những thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt trong môi trường làm việc, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện quyền lợi và điều kiện làm việc cho họ. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ các quy định pháp luật không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp 07, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật trong lĩnh vực lao động. Những thông tin này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách và thực tiễn hiện hành, từ đó có thể tham gia tích cực vào việc cải thiện tình hình cho nhóm đối tượng này.