CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Người khuyết tật 1. Khái niệm Người khuyết tật, là một trong các nhóm người dễ bị tổn thương cần được ưu tiên và bảo vệ. Theo WHO thì NKT có ba mức suy giảm là: “Khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) [56, tr.
Khiếm khuyết là tình trạng mất mát hoặc không như bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn về tâm lý hoặc/và sinh lý của cấu trúc cơ thể con người. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động hằng ngày, là hậu quả của sự khiếm khuyết gây ra và cần các biện pháp can thiệp để khắc phục nhược điểm. Còn tàn tật là tình trạng bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh tác động lên tình trạng khuyết tật của họ”. Như vậy có thể hiểu, NKT là người bị khiếm khuyết về tâm lý hoặc/và sinh lý các bộ phận cơ thể người dẫn đến sự hạn chế trong thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
Cách hiểu này cũng gần giống với cách hiểu trong Đạo luật người Mỹ khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA): “Khuyết tật là sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống của một cá nhân và được ghi nhận trong hồ sơ về sự suy giảm” [52, tr. Pháp luật các nước cũng giới hạn rõ ràng về thời gian khiếm khuyết kéo dài là bao lâu thì sẽ được xem là NKT để phân biệt giữa NKT với người bị suy giảm chức năng tạm thời. Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật do Liên Hợp Quốcthông qua vào ngày 13/3/2007 định nghĩa: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Cách định nghĩa này tương tự cách sử dụng thuật ngữ “Người khuyết tật” tại khoản 1, Điều 1 Công ước số 7 159 của ILO về tài thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người khuyết tật năm 1983: “Thuật ngữ người có khuyết tật dùng để chỉ người mà triển vọng tìm được một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về mặt nghề nghiệp, đều bị giảm sút một cách rõ rệt, do một sự khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần được công nhận rõ ràng”.
Ở Việt Nam, khái niệm NKT chỉ mới được sử dụng vào khoảng năm 2006, còn về trước đó chúng ta sử dụng khái niệm “người tàn tật”, thậm chí gọi gộp “người tàn tật khuyết tật” để nói về những người bị khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng. Cụ thể, trong Pháp lệnh số 06/1998/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Quốc hội về Người tàn tật, tại Điều 1 có ghi nhận và giải thích: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Tuy nhiên có thể nhìn thấy rằng, luật pháp quốc tế không cho rằng cách gọi tàn tật là đúng, vì giữa người tàn tật và NKT là hai khái niệm khác nhau. Theo quan điểm của Ủy ban về các quyền của người khuyết tật, NKT trở thành “tàn tật” là vì do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác của xã hội.
Do đó, việc đánh đồng hai khái niệm “tàn” và “khuyết” là một sẽ làm hạn chế sự tham gia và hòa nhập vào cộng đồng của người khuyết tật.2010, Quốc hội chính thức thông qua LNKT thay thế cho Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, từ đây khái niệm NKT chính thức được thừa nhận và sử dụng rộng rãi: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm này được sự dụng rộng rãi trong hầu hết các văn bản điều chỉnh về người khuyết tật sau này, ví dụ như Bộ luật lao động năm 2012, Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật. Như vậy, NKT là người khiếm khuyết về bộ phận cơ thể dẫn đến bị hạn chế trong quá trình tham gia vào các hoạt 8 động hàng ngày. Cũng như các nước Anh, Mỹ, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận người bị khiếm khuyết về tinh thần và trí tuệ là người khuyết tật.
Cụ thể là tại Điều 3 LNKT năm 2010 có quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật, cụ thể: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ… Vì nhìn nhận từ thực tế thì những người bị suy giảm về tinh thần và trí tuệ, nhất là trẻ em cũng gặp rất nhiều rào cản trong sinh hoạt và hòa nhập cùng cộng đồng, chẳng hạn trẻ em mắc: bệnh tự kỉ, hội chứng tăng động rối loạn, tâm thần phân liệt… Các khiếm khuyết này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển và tăng trưởng bình thường của cá nhân, dễ có những hành vi không kiểm soát được. Từ những phân tích trên, có thể hiểu “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần dẫn đến suy giảm lâu dài về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày”. Đặc điểm người khuyết tật Thứ nhất, NKT là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần. Một người bị xem là khuyết tật khi người đó bị khiếm khuyết về các bộ phận trên cơ thể hoặc/và tinh thần, trí tuệ.
Sự khiếm khuyết đó có thể vì nhiều nguyên nhân như: bẩm sinh, bệnh tật, tai nạn hay nguyên nhân đến từ chiến tranh, thảm họa thiên nhiên… Điều 3, LNKT 2010 và Điều 2, Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LNKT quy định cụ thể về các dạng tật mà NKT có thể mắc phải bao gồm: Một là, khuyết tật vận động. Khuyết tật vận động là một dạng khiếm khuyết làm cho NKT suy giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. NKT vận động thường không thể tự mình hoặc gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hà ng ngày như người bình thường. Họ chủ yếu phải nhờ sự giúp đỡ của người khác hoặc máy móc hỗ trợ mới có thể sinh hoạt.
Hai là, khuyết tật nghe, nói. Khuyết tật nghe, nói là tình trạng suy giảm hoặc 9 mất hoàn toàn chức năng nghe, nói hoặc cả hai, không thể phát âm thành tiếng, câu rõ ràng và nghe hiểu dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói với những người xung quanh. Ba là, khuyết tật nhìn. Khuyết tật nhìn là tình trạng cá nhân bị giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường.
Tuy nhiên, so với khái niệm này thì người cận thị nặng cũng có thể xem là NKT vì họ cũng bị giảm về khả năng nhìn, cảm nhận ánh sáng, màu sắc, sự vật. Theo WHO định nghĩa thì khuyết tật nhìn là tình trạng suy giảm khả năng nhìn ở một mức độ nhất định gây ra những vấn đề không thể khắc phục bằng phương tiện hỗ trợ thông thường như kính, mà sau khi điều chỉnh thị lực tốt nhất kém hơn 20/40 hoặc 20/60 theo thang điểm thị lực [56, tr. Bốn là, khuyết tật thần kinh, tâm thần. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.
Năm là, khuyết tật trí tuệ; khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc như người thường. Thứ hai, khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần của NKT phải là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm lâu dài về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hằng ngày Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật (DDA) do Quốc hội Anh ban hành - nay chỉ có hiệu lực ở Bắc Ireland, khi xét về mặt thời gian tác động của những khiếm khuyết dẫn đến suy giảm về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt của NKT thì sự suy giảm đó phải kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài, nếu ít hơn 12 tháng bình thường thì không được coi là NKT, trừ khi là bị tái phát đi tái phát lại [49, tr. Nghĩa là, NKT thì ngoài sự khiếm khuyết về cơ thể hoặc/và tinh thần, thì còn phải đáp ứng điều kiện về mặt thời gian mà sự suy giảm về cơ thể hoặc/và tinh thần đó gây ra cho họ dẫn đến những hạn chế trong cuộc sống. Khoảng thời gian suy giảm đó phải đủ lâu để làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt 10 thông thường cũng như là khả năng tự lao động nuôi sống bản thân của chính NKT đó.
Pháp luật Việt Nam không giới hạn cụ thể sự suy giảm kéo dài bao lâu thì được xem là khuyết tật. Tuy nhiên, dựa vào các quy định về “xác nhận khuyết tật” tại chương II, LNKT năm 2010 và mẫu phiếu 01 xác định mức độ khuyết tật quy định tại Thông tư số 01/2019/TT-BLĐTBXH về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện thì có thể thấy tình trạng khiếm khuyết được đánh giá là phải diễn ra rất lâu dài, không có cơ hội phục hồi hoặc có nhưng tỉ lệ phục hồi rất thấp. Chính sự suy giảm lâu dài đó là rào cản hạn chế NKT trong thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày và hòa nhập với cộng đồng. Ở Mỹ, lần đầu tiên cụm từ khuyết tật được sử dụng trong các văn bản pháp luật là vào năm 1880 và khái niệm lúc bấy giờ cũng khác so với cách định nghĩa về NKT như hiện nay.