Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số tại Việt Nam, nhu cầu về nhà ở của người dân tại các đô thị lớn không ngừng gia tăng. Theo phê duyệt tại Quyết định số 4834/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu về nhà ở tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2030 dự kiến đạt hơn 149 triệu m² sàn, trong đó nhu cầu nhà ở chung cư cao tầng chiếm gần 60 triệu m² sàn. Để thực hiện các dự án phát triển nhà ở thương mại quy mô lớn, doanh nghiệp cần nguồn vốn đầu tư rất lớn, trong khi quy định pháp luật về đất đai và đầu tư chỉ bắt buộc chủ đầu tư duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhất định từ 15% đến 20% tổng mức đầu tư. Phần vốn còn lại đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động từ nhiều kênh khác nhau.
Tuy nhiên, trong bối cảnh các ngân hàng thương mại kiểm soát chặt chẽ hạn mức tín dụng bất động sản để hạn chế nợ xấu (với tổng dư nợ tín dụng bất động sản năm 2020 đạt 633,740 nghìn tỷ đồng) và doanh nghiệp đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu (hơn 400.000 tỷ đồng trong năm 2020), thực tế đã phát sinh nhiều hiện tượng huy động vốn trái phép, lách luật hoặc chiếm dụng vốn tại các dự án ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Điện Biên. Một số dự án điển hình được tác giả viện dẫn gồm có: Rome Diamond Lotus (Phúc Khang Corporation), Metro Star (Công ty TNHH Đầu tư Metro Star), Khu dân cư Thương mại Dịch vụ Đông Bình Dương, Dự án Chung cư An Sinh - Asa Light (Quận 8, TP.HCM), và Dự án Khu nhà ở Tân Thanh (Điện Biên). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những khoảng trống, bất cập trong hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động huy động vốn, thiếu cơ chế kiểm soát việc sử dụng vốn và chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về nhà ở thương mại, phát triển nhà ở thương mại và hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp để phát triển nhà ở thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng liên quan đến hình thức huy động vốn, điều kiện huy động vốn, kiểm soát quá trình sử dụng vốn và chế tài xử phạt.
- Chỉ ra những bất cập, khoảng trống pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn nhằm bảo đảm sự minh bạch của thị trường và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp phát triển dự án nhà ở thương mại, cùng thực trạng áp dụng pháp luật trên thực tế.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các hình thức huy động vốn theo quy định của pháp luật về nhà ở, kinh doanh bất động sản, đầu tư, đất đai, tài chính, ngân hàng, chứng khoán và xử lý vi phạm hành chính; có sự đối chiếu, so sánh với pháp luật của Singapore và Ấn Độ.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn tại thị trường bất động sản Việt Nam (trọng tâm là các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Điện Biên) với mốc dữ liệu và văn bản quy phạm pháp luật áp dụng tính đến thời điểm năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các nền tảng lý thuyết và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:
- Khung pháp lý trong nước: Hiến pháp năm 2013; Luật Nhà ở năm 2005 và Luật Nhà ở năm 2014; Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Đầu tư năm 2020; Luật Đất đai năm 1987, 1993, 1998, 2013; Nghị định số 71/2001/NĐ-CP; Nghị định số 71/2010/NĐ-CP; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Nghị định số 99/2015/NĐ-CP; Nghị định số 139/2017/NĐ-CP; Nghị định số 148/2020/NĐ-CP.
- Khung pháp lý quốc tế tham chiếu: Luật Sở hữu bất động sản Singapore năm 1973; Luật Phát triển nhà ở (Quản lý và Giấy phép) Singapore năm 1985; Luật Bất động sản (Quy định và Phát triển) Ấn Độ năm 2016 (Real Estate Regulation and Development Act 2016 - RERA).
- Tài liệu học thuật kế thừa: Các công trình nghiên cứu của Hà Thị Thu Trang (2014), Lưu Quốc Thái (2014), Trần Linh Huân và Nguyễn Thị Hồng Thắm (2020), Nguyễn Thị Hồng Nhung (2019), Dương Thị Bình Minh và nhóm tác giả (2012).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, bình luận: Được áp dụng xuyên suốt Chương 1 và Chương 2 nhằm mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật, làm rõ bản chất pháp lý của từng hình thức huy động vốn và bình luận thực trạng áp dụng trên thực tế.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh sự thay đổi của pháp luật qua các thời kỳ (trước và sau Luật Nhà ở năm 2005, Luật Nhà ở năm 2014); so sánh pháp luật Việt Nam với cơ chế quản lý vốn huy động và tiến độ thanh toán của Singapore và Ấn Độ.
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê: Khai thác, xử lý dữ liệu từ các thông cáo chính thức của Bộ Xây dựng (Thông cáo số 06/TC-BXD năm 2021, Thông cáo số 34/TC-BXD năm 2021), báo cáo xếp hạng của Fitch Ratings và văn bản của Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA).
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các hạn chế, vướng mắc từ thực tiễn để xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật tại Chương 2.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn để phát triển nhà ở thương mại
Chương 1 tập trung xác lập cơ sở lý luận về nhà ở thương mại và hoạt động huy động vốn của chủ đầu tư dự án:
-
Tổng quan về phát triển nhà ở thương mại:
- Nhà ở thương mại được định nghĩa tại khoản 4 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường. Đặc điểm pháp lý cơ bản gồm: tính thương mại (mục đích tìm kiếm lợi nhuận), tính thị trường (tuân thủ quy luật cung - cầu, thỏa thuận dân sự), tính đa dạng (phân khúc, loại hình), và tính khu vực/địa phương (phụ thuộc hạ tầng, vị trí địa lý).
- Chủ thể phát triển nhà ở thương mại phải là doanh nghiệp, hợp tác xã có chức năng kinh doanh bất động sản, có vốn ký quỹ thực hiện dự án theo pháp luật đầu tư và đáp ứng tỷ lệ vốn chủ sở hữu theo Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP): không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án dưới 20 ha và không thấp hơn 15% đối với dự án từ 20 ha trở lên.
-
Bản chất và ý nghĩa hoạt động huy động vốn:
- Huy động vốn là quá trình tìm kiếm, khai thác và đưa các nguồn vốn bên ngoài vào dự án. Hoạt động này mang tính chất đặc thù về chủ thể (chủ đầu tư đủ điều kiện), đối tượng chịu tác động (dòng vốn tiền tệ giá trị lớn), mục đích (đảm bảo tiến độ thi công và lợi nhuận), và cách thức (tuân thủ nguyên tắc tại Điều 68, 69 Luật Nhà ở năm 2014).
- Ý nghĩa: Giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn tài chính, hoàn thành công trình đúng tiến độ, tiết kiệm chi phí, nâng cao uy tín, đồng thời khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và bảo đảm an sinh xã hội.
-
Lịch sử phát triển và sự cần thiết hoàn thiện pháp luật:
- Quá trình phát triển pháp luật chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước Luật Nhà ở năm 2005 (thời kỳ bao cấp sang kinh tế thị trường với Luật Đất đai 1987, 1993, 1998, Pháp lệnh Nhà ở 1991, Nghị định 71/2001/NĐ-CP) và Giai đoạn từ Luật Nhà ở năm 2005 đến nay (Luật Nhà ở 2005, Nghị định 71/2010/NĐ-CP, Luật Nhà ở 2014, Nghị định 99/2015/NĐ-CP).
- Yêu cầu hoàn thiện xuất phát từ việc cân bằng hai yếu tố: Tránh quy định quá khắt khe gây đình trệ dự án và tránh quy định quá lỏng lẻo tạo kẽ hở cho doanh nghiệp chiếm dụng vốn trái phép (dẫn chứng dự án Khu nhà ở Tân Thanh tại Điện Biên huy động hơn 251,3 tỷ đồng, chiếm hơn 72% tổng mức đầu tư khi chưa có giấy phép xây dựng).
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động huy động vốn để phát triển nhà ở thương mại và giải pháp hoàn thiện
Chương 2 phân tích chuyên sâu 4 nhóm nội dung quy phạm và đề xuất giải pháp tương ứng:
+---------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN PHỔ BIẾN |
| 1. Hợp đồng hợp tác đầu tư / kinh doanh / liên doanh (chỉ phân chia lợi nhuận, cấm phân chia nhà ở) |
| 2. Bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai (thu tiền trả trước theo tiến độ) |
| 3. Vay vốn từ tổ chức tín dụng / chi nhánh ngân hàng nước ngoài |
| 4. Phát hành trái phiếu doanh nghiệp (chào bán riêng lẻ hoặc ra công chúng) |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------------+
-
Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp:
- Quy định và thực trạng: Theo Điều 69 Luật Nhà ở năm 2014 và Điều 19 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP, hình thức hợp tác đầu tư, góp vốn chỉ được phân chia lợi nhuận bằng tiền hoặc cổ phiếu, nghiêm cấm phân chia sản phẩm nhà ở (khác với điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 71/2010/NĐ-CP trước đây). Hình thức thu tiền trả trước mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là kênh huy động chủ lực nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi sản phẩm chưa hiện hữu.
- Kênh trái phiếu doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp huy động với lãi suất cao (Sunshine Group 11%/năm, Novaland 10,5%/năm, Phát Đạt 14%/năm, Apec Group phát hành Happybond lãi suất 13%/năm). Fitch Ratings cảnh báo áp lực trả nợ lớn khi sức khỏe tài chính giữa các doanh nghiệp đầu ngành (như Vinhomes) và nhóm còn lại có sự phân hóa mạnh. Thị trường thiếu vắng các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập.
- Giải pháp: Khuyến khích doanh nghiệp chuyển dịch từ phát hành riêng lẻ sang chào bán rộng rãi ra công chúng; đẩy mạnh hình thành các tổ chức định mức tín nhiệm độc lập để minh bạch hóa năng lực tài chính của nhà phát hành.
-
Điều kiện huy động vốn:
- Thực trạng: Điều 55, 56 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định điều kiện mở bán nhà ở hình thành trong tương lai (hồ sơ dự án, giấy phép xây dựng, biên bản nghiệm thu phần móng, bảo lãnh ngân hàng, văn bản thông báo của Sở Xây dựng trong vòng 15 ngày). Tuy nhiên, luật chưa bao quát điều kiện đối với giao dịch cho thuê nhà ở hình thành trong tương lai; thời hạn 15 ngày để Sở Xây dựng thẩm định dự án lớn còn chưa phù hợp; thiếu quy định xử lý khi Sở Xây dựng không phản hồi đúng hạn mà chủ đầu tư cam kết tự chịu trách nhiệm để ký hợp đồng.
- Giải pháp: Bổ sung giao dịch "cho thuê" vào phạm vi điều chỉnh của Điều 55, 56 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; phân cấp thời hạn thẩm định của Sở Xây dựng căn cứ theo quy mô dự án; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên thông tại các Sở Xây dựng để công khai tình trạng pháp lý và số lượng sản phẩm đủ điều kiện giao dịch.
-
Kiểm soát quá trình huy động và sử dụng vốn huy động:
- Thực trạng: Khoản 1 Điều 57 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 giới hạn tỷ lệ thu tiền trả trước (đợt đầu không quá 30%, các đợt tiếp theo theo tiến độ nhưng tổng số không quá 70% trước khi bàn giao nhà, hoặc 50% đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Tuy nhiên, luật thiếu tiêu chí kỹ thuật cụ thể để xác định "tiến độ xây dựng", dẫn đến việc doanh nghiệp chia nhỏ đợt thu theo mốc thời gian cơ học thay vì giai đoạn hoàn thành công trình (như vụ việc Dự án Asa Light Quận 8 thu 30% giá trị căn hộ nhưng ngưng thi công từ giữa năm 2018). Quyền yêu cầu cung cấp thông tin và kiểm tra công trình của khách hàng theo Điều 58 Luật Kinh doanh bất động sản mang tính hình thức, thiếu cơ chế thực thi bảo đảm.
- Giải pháp tham chiếu quốc tế:
- Học tập cơ chế Option to Purchase và tiến độ thanh toán chia nhỏ theo cấu phần vật lý (móng, khung, tường, trần, thiết bị) của Luật Phát triển nhà ở Singapore năm 1985.
- Tiếp thu quy định tại Mục D điểm l khoản 2 Điều 4 Luật Bất động sản Ấn Độ năm 2016 (RERA 2016): Yêu cầu chủ đầu tư nộp 70% số tiền huy động từ khách hàng vào tài khoản ngân hàng phong tỏa riêng biệt; chỉ được rút tiền theo tỷ lệ hoàn thành dự án dựa trên văn bản xác nhận đồng thời của 3 chủ thể chuyên môn độc lập (kiến trúc sư, kỹ sư công trình và kế toán viên hành nghề).
-
Quản lý, giám sát và chế tài xử phạt của cơ quan quản lý Nhà nước:
- Thực trạng: Chế tài xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 57 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP (phạt từ 60 - 300 triệu đồng) là quá nhẹ so với quy mô dòng vốn hàng trăm tỷ đồng thu được từ hành vi vi phạm (dẫn chứng Công ty TNHH Phát triển Đô thị Đông Bình Dương bị xử phạt 40 triệu đồng và 50 triệu đồng nhưng vẫn tiếp tục thi công không phép). Cơ chế bồi thường thiệt hại và hoàn trả tiền cho người mua nhà khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu gặp bế tắc khi chủ đầu tư mất thanh khoản.
- Giải pháp: Nâng mức phạt tiền hành chính theo tỷ lệ phần trăm giá trị thực tế của bất động sản vi phạm; áp dụng triệt để hình phạt bổ sung (tịch thu giấy phép xây dựng, đình chỉ hoạt động kinh doanh, cấm tham gia dự án mới trong thời hạn nhất định); xử lý trách nhiệm hình sự với hành vi cố tình tái phạm; hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành án dân sự để bảo vệ tài sản của khách hàng.
Kết quả và đóng góp
| Nội dung trọng tâm |
Kết quả nghiên cứu và Đóng góp của tác giả |
Căn cứ / Dữ liệu thực tế |
| Hệ thống hóa lý luận |
Phân tích toàn diện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động huy động vốn theo Luật Nhà ở 2014 và Luật Đầu tư 2020. |
Điều 68, 69 Luật Nhà ở 2014; Luật Đầu tư 2020 (bỏ vốn pháp định 20 tỷ đồng). |
| Đánh giá thị trường trái phiếu |
Chỉ ra áp lực thanh khoản từ việc doanh nghiệp phát hành trái phiếu lãi suất cao (10,5% - 14%) và sự suy yếu tài chính của nhóm doanh nghiệp ngoài nhóm dẫn đầu. |
Dữ liệu phát hành trái phiếu năm 2020 (>400.000 tỷ đồng); Báo cáo phân tích của Fitch Ratings; Công văn số 02/2021/CV-HoREA. |
| Kiểm soát dòng tiền huy động |
Đề xuất giải pháp quản lý tài khoản phong tỏa và giải ngân theo tiến độ nghiệm thu kỹ thuật thay vì tiến độ thời gian. |
Mô hình tài khoản chuyên dụng 70% của Ấn Độ (RERA 2016) và cơ chế thanh toán theo hạng mục thi công của Singapore. |
| Cải cách chế tài xử phạt |
Đề xuất thay thế mức phạt trần cố định (300 triệu đồng) bằng mức phạt tính theo tỷ lệ giá trị dự án/bất động sản vi phạm. |
Thực tế các sai phạm tại dự án KDC Đông Bình Dương, Dự án Tân Thanh (Điện Biên), Asa Light (TP.HCM). |
Khóa luận đóng góp một góc nhìn có tính hệ thống, cập nhật đầy đủ các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm 2020-2021 (như Luật Đầu tư 2020, Nghị định 148/2020/NĐ-CP), khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước vốn chỉ tập trung vào một hình thức đơn lẻ hoặc dựa trên khung pháp lý cũ của Luật Nhà ở năm 2005.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ pháp lý chuyên ngành Luật Thương mại và Luật Kinh doanh bất động sản; các dữ liệu thực chứng và văn bản viện dẫn phản ánh bức tranh thực tiễn tính đến giữa năm 2021.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu các công cụ tài chính bất động sản chuyên sâu như Quỹ đầu tư tín thác bất động sản (REIT), hoạt động chứng khoán hóa bất động sản; theo dõi và đánh giá tác động thực tiễn của các dự thảo sửa đổi Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đất đai trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Quản trị Kinh doanh và Quản lý Đô thị.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng (Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng các địa phương).
- Chủ đầu tư dự án bất động sản, các tổ chức tín dụng, công ty tư vấn pháp lý và khách hàng cá nhân tham gia giao dịch nhà ở thương mại.
- Nội dung giá trị: Phần tổng hợp so sánh kinh nghiệm lập pháp của Singapore và Ấn Độ về tài khoản phong tỏa; phân tích các kẽ hở pháp lý về điều kiện mở bán và cơ chế xử lý vi phạm trong hợp đồng huy động vốn.
Câu hỏi thường gặp
-
Pháp luật hiện hành quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu của chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại là bao nhiêu?
- Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP), chủ đầu tư phải có vốn thuộc sở hữu của mình không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, và không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô từ 20 ha trở lên.
-
Chủ đầu tư có được ký hợp đồng góp vốn để phân chia sản phẩm là căn hộ nhà ở thương mại hay không?
- Không. Theo điểm a khoản 2 Điều 19 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP, bên tham gia góp vốn, hợp tác đầu tư chỉ được phân chia lợi nhuận bằng tiền hoặc cổ phiếu theo tỷ lệ vốn góp; chủ đầu tư bị nghiêm cấm sử dụng hình thức này để phân chia sản phẩm nhà ở hoặc ưu tiên quyền mua, đặt cọc nhà ở.
-
Mức thu tiền trả trước tối đa đối với nhà ở hình thành trong tương lai được giới hạn như thế nào?
- Theo khoản 1 Điều 57 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, việc thu tiền trả trước lần đầu không quá 30% giá trị hợp đồng, các lần tiếp theo thu theo tiến độ nhưng tổng số không vượt quá 70% giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là không quá 50%).
-
Kinh nghiệm của Ấn Độ (RERA 2016) trong việc kiểm soát vốn huy động từ người mua nhà là gì?
- Theo RERA 2016, chủ đầu tư phải chuyển 70% số tiền thu được từ khách hàng vào một tài khoản ngân hàng riêng biệt. Số tiền này chỉ được giải ngân phục vụ chi phí xây dựng dự án theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành thực tế, có sự xác nhận độc lập của cả 3 chủ thể: kiến trúc sư, kỹ sư và kế toán viên hành nghề.
-
Mức xử phạt vi phạm hành chính cao nhất đối với hành vi huy động hoặc chiếm dụng vốn trái phép theo Nghị định 139/2017/NĐ-CP là bao nhiêu?
- Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi huy động hoặc chiếm dụng vốn trái phép, sử dụng vốn huy động không đúng mục đích quy định tại Điều 57 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP là 300 triệu đồng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thùy Dung đã khái quát toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn phát triển nhà ở thương mại tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích các bất cập về điều kiện mở bán, cơ chế giám sát sử dụng vốn và chế tài xử phạt hành chính, nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp cụ thể có tham chiếu kinh nghiệm từ Singapore và Ấn Độ. Đây là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho việc hoàn thiện khung pháp lý về kinh doanh bất động sản và bảo vệ quyền lợi các bên tham gia thị trường.