Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG KINH DOANH NHÀ Ở THƯƠNG MẠI LÀ BẤT ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI Ở VIỆT NAM 1. Khái luận về hoạt động huy động vốn trong kinh doanh nhà ở thương mại là bất động sản hình thành trong tương lai 1. Khái niệm, đặc điểm về nhà ở thương mại Đối với việc xác định đúng bản chất khái niệm nhà ở thương mại cần nghiên cứu ở phương diện nguồn gốc xuất hiện trong văn bản pháp lý của một quốc gia. Ở nước ta, cụm từ “Nhà ở thương mại” (NOTM) lần đầu tiên được định nghĩa chính thức tại khoản 2 điều 3 Luật nhà ở năm 2006, như sau: Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo cơ chế thị trường.
Nhìn nhận theo phương diện pháp lý, lần đầu tiên trong luật thực định là Luật nhà ở năm 2006 các nhà làm luật đề cập đến cơ chế thị trường và đặt tài sản nhà ở thương mại ở vị trí trung tâm kết nối giữa cung và câu trong cụm từ “nhà ở thương mại” theo ý chí chung thống nhất từ trung ương đến địa phương. Đây là một dạng nhà ở được tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng với mục đích chính là bán, cho thuê và cho thuê mua theo nhu cầu để ở và để kinh doanh bất động sản kiếm lợi nhuận. “Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường”1 Khái niệm này được các đại biểu Quốc hội kế thừa trong quy định của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2006: Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo cơ chế thị trường 2. Trong quy định này có thể nhận diện sự khác biệt với quy định trong Luật nhà ở năm 2014 là chủ thể được phép đầu tư xây dựng “do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng”.
Tức là Luật nhà ở năm 2006 xác định nhà ở thương mại do “chủ đầu tư xây dựng” thực hiện để tạo dựng nên sản phẩm nhà ở thương mại, còn Luật nhà ở năm 2014 thì cụm từ chủ đầu tư được bãi bỏ, không tiếp tục sử dụng. Điều này hoàn toàn hợp lý giữa lý luận và thực tiễn thành phần tạo ra cung cầu nhà ở thương mại trong nền kinh tế 1 Xem tại khoản 4 điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 2 Khoản 2 điều 3 Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2006 13 thị trường trong pháp luật đầu tư của thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới ở nước ta có thống nhất trong cách hiểu về đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tác giả đồng ý với quan điểm của một số nhà khoa học khi cho rằng, trước ngày Luật nhà ở năm 2006 ra đời, định nghĩa về nhà ở thương mại chưa được thống nhất và có nhiều cách hiểu khác nhau. Ở thời điểm đó chỉ có khái niệm chung là nhà ở và mặc nhiên nhà ở thương mại cũng hiểu theo nghĩa chung nhất đó là nhà ở.
Bởi vì, ở giai đoạn bao cấp và thời kỳ đầu phát triển kinh tế mở chuẩn bị cho việc hội nhập kinh tế thị trường, nhà ở được thừa nhận là tư liệu sinh hoạt và là nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Cũng giống như nhiều nền văn minh khác, khi xã hội càng văn minh, hiện đại thì chỗ ở mà chính xác hơn là nhà ở càng có vai trò quan trọng. Nhà ở không phải chỉ là một vật thể kiến trúc đơn thuần đảm bảo nhu cầu ở của con người mà còn là một vật thể biểu thị các giá trị văn hóa, lịch sử của một dân tộc, một quốc gia và cả nhân loại. Do đó, nhà ở có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội, quyền có nhà để ở được xem là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân.
Như vậy, cụm từ nhà ở thương mại chỉ chính thức được định nghĩa trong văn bản Luật nhà ở năm 2006 bắt nguồn từ xu thế chung tất yếu của thị trường kinh tế. Ngoài ra nó còn thế chế hóa quyền của công dân mà tại Điều 22 Hiến pháp 2013 đã ghi nhận: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”. Trong quy định của Luật nhà ở 2014 đã thể chế hóa quyền theo hiến định, cụ thể là: “Hộ gia đình, cá nhân có quyền có chỗ ở thông qua việc đầu tư xây dựng, mua, thuê, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi, mượn, ở nhờ, quản lý nhà ở theo ủy quyền và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”. Tức là trong Luật nhà ở đâu tiên của nước ta có đưa ra chế định phát triển nhà ở trong đó có nhà ở thương mại để đáp ứng nhu cầu của người dân cũng như tuân theo hướng phát triển của thị trường trong nền kinh tế mở.
Ở góc độ quy phạm điều chỉnh, ngày 15 tháng 7 năm 2020, Quốc hội đã thống nhất sửa đổi một số điều trong Luật nhà ở năm 2014 và được Văn phòng Quốc hội ban hành văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPQH gọi chung là văn bản họp nhất luật nhà ở năm 2020. Văn bản hợp nhất này vẫn kế thừa định nghĩa về nhà ở thương mại tại khoản 4 điều 3 như là một minh chứng cho việc phù hợp của nó trong cách hiểu chung về khái niệm trong thực tiễn nhiều năm qua kể từ ngày Luật nhà ở năm 2014 có hiệu lực thi 14 hành trong thực tiễn. Với khái niệm, Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường. Tác giả cho rằng đây là một khái niệm hoàn toàn chuẩn xác đúng bản chất của nó theo cơ chế mở của nền kinh tế thị trường, không thể tách biệt với ý chí cung – cầu của các bên là người bán và người mua tham gia thị trường nhà ở thương mại quyết định.
Đứng ở góc độ hiệu quả thực tiễn áp dụng quy định pháp luật thì khái niệm này đã thực sự thống nhất chung trong cách hiểu và được bảo đảm thực hiện đối với tất cả mọi chủ thể khi tham gia vào thị trường nhà ở thương mại ở nước ta. Nhà ở thương mại là nhà ở do các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển để bán, cho thuê theo nhu cầu của thị trường. Không giống với các loại nhà ở khác, nhà ở thương mại được đầu tư xây dựng là để kinh doanh (mua bán, cho thuê) nhằm mục đích lợi nhuận. Tìm kiếm lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các nhà đầu tư khi bỏ vốn ra đầu tư phát triển nhà ở thương mại, nếu không xuất phát từ mục tiêu đó nhà ở được tạo lập sẽ không được gọi là nhà ở thương mại mà sẽ được gọi với một tên khác.
Trong điều kiện hiện nay, Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế phát triển nhà ở thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu chỗ ở và chất lượng nhà ở ngày càng cao của nhân dân. Từ những lập luận, phân tích trên đây về khái niệm, có thể nhận diện được nhà ở thương mại có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, về hình thức tạo lập. Nhà ở thương mại được hình thành chủ yếu do chủ đầu tư kinh doanh nhà ở thương mại, nghĩa là do chủ thể kinh doanh nhà ở thương mại là chủ đầu tư, người có giấy phép kinh doanh nhà ở thương mại bỏ vốn đầu tư thông qua hình thức xây dựng hoặc mua lại, thuê lại, thuê mua lại nhà ở của tổ chức, cá nhân. Ví dụ như chủ đầu tư là Công ty cổ phần Novaland, Gamuda, Vingroup, Hưng Thịnh Phát.
Các chủ đầu tư này phải có năng lực về tài chính và năng lực về kinh doanh đầu tư xây dựng nhà theo quy định của pháp luật đầu tư, Luật xây dựng, Luật nhà ở và Luật kinh doanh bất động sản. Hai là, về mục đích. Nhà ở thương mại là đối tượng của hoạt động kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư kinh doanh nhà ở thương mại. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu nhà ở thương mại không sử dụng vào mục đích để ở mà để kinh doanh theo các hình thức cơ bản luật định, như: bán, cho thuê, cho thuê mua hoặc bán lại, cho thuê lại, cho thuê mua lại cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu để thu lợi nhuận.
Đối tượng bất động sản này được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bất động sản với hai nhóm bất động 15 sản rất cơ bản trong nền kinh tế thị trường đó là: đối tượng bất động sản là nhà ở thương mại có sẵn và bất động sản là nhà ở thương mại hình thành trong tương lai. Người mua, người thuê hoặc người thuê mua nhà ở xã hội đều hướng đến một mục đích là được sở hữu tài sản là nhà gắn liền trên đất hợp pháp theo luật định. Trong đó quyền tài sản là nhà ở thương mại được thiết lập giao dịch thỏa mãn mục đích hướng đến của bên bán, cho thuê, cho thuê mua và bên mua, bên thuê, bên thuê mua theo nhu cầu sử dụng hoặc nhằm mục đích sinh lời trong thực tiễn. Ba là, giao dịch bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại được xác lập giữa chủ đầu tư kinh doanh nhà ở thương mại hoặc chủ sở hữu nhà ở thương mại với tổ chức, cá nhân có nhu cầu dựa trên cơ sở thỏa thuận về giá cả theo cơ chế thị trường.
Điều này có nghĩa là việc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại dựa trên các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường bao gồm quy luật giá trị, quy luật “cung – cầu” để hình thành lên giá cả giao dịch sát giá thị trường. Trong thực tiễn cho thấy, Người mua, thuê, thuê mua nhà ở thương mại dường như không được hưởng bất kỳ sự ưu đãi, miễn giảm nào về giá cả khi tham gia giao dịch mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại.