CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP CHUYỂN ĐỔI XANH TRONG ĐIỀU KIỆN LIÊN MINH CHÂU ÂU ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH BIÊN GIỚI CARBON 1. Khái quát cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu 1. Khái niệm về cơ chế điều chỉnh biên giới carbon Trước khi tìm hiểu về CBAM, ta cần làm rõ thuế carbon là gì? Thuế carbon (carbon pricing) là một cơ chế đánh thuế dựa trên lượng khí nhà kính mà một nước tiêu thụ, sản xuất ra các sản phẩm. Thuế carbon được coi là một loại thuế môi trường đánh vào số lượng carbon nhiên liệu, đây được coi là hình thức định giá carbon.
Việc đánh thuế carbon nhằm hướng đến mục tiêu thúc đẩy mỗi cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp, mỗi quốc gia trên thế giới sản xuất hiện nay cần phải giảm thiểu tối đa lượng khí carbon (CO2) phát thải ra ngoài môi trường. Từ đó khuyến khích con người sử dụng những nguồn năng lượng xanh, sạch, các doanh nghiệp cần chuyển đổi quy trình sản xuất của mình từ việc sử dụng năng lượng hóa thạch sang việc áp dụng công nghệ mới và hiện đại, đặc biệt là công nghệ xanh hóa. Công nghệ xanh hóa trong các khâu sản xuất, thực hiện quá trình sản xuất giảm tối đa, thậm chí đưa phát thải CO2 về 0 đảm bảo phát triển bền vững. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon có tên viết tắt là CBAM (hay Carbon Border Adjustment Mechanism).
Đây là một cơ chế được xây dựng bởi một tổ chức kinh tế lớn trên thế giới - Liên minh châu Âu (EU) với mục đích kiểm soát lượng khí nhà kính thải ra từ các loại hàng hóa của các quốc gia nhập khẩu vào EU. Theo đó, CBAM đặt ra giới hạn về lượng khí carbon tiêu chuẩn mà hàng hóa, sản phẩm phải tuân thủ để được phép xuất khẩu sang EU. Khi các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường EU cần phải tuân thủ theo các quy định về lượng khí thải carbon trên mỗi sản phẩm, nếu vượt quá quy định sẽ bị phạt. Những mặt hàng của nước ta khi xuất khẩu sang EU và chịu sự tác động trực tiếp của CBAM, trong đó tập trung vào 4 lĩnh vực sắt, thép, nhôm xi măng và hóa chất.
Trong đó sản phẩm từ thép chiếm một tỷ lệ giá trị các mặt hàng xuất khẩu rất cao 96%. Với mức giá của hạn ngạch phát thải hiện tại của EU đưa ra là rất cao, và khi đó thì các nhà xuất khẩu thép sẽ phải cần có 1,7 triệu chứng chỉ với chi phí là 146 triệu USD (Trâm Anh, 2023). Có lẽ, đây là một khoản tiền không nhỏ đối với doanh nghiệp ở nước ta. Cơ chế này đã tạo ra một áp lực đối với các doanh nghiệp ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam để giảm khí nhà kính trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp, hoặc phải trả thuế carbon cho các sản phẩm của họ khi xuất khẩu sang thị trường EU.
Các vấn đề cơ bản của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon EU đang tiến hành việc thực hiện kế hoạch để đạt được mục tiêu tham vọng trở thành lục địa trung hòa khí carbon vào năm 2050. Tuy nhiên, EU gặp phải khó khăn, lo ngại các doanh nghiệp EU có thể chuyển sang các ngành nghề sản xuất có hàm lượng phát thải khí CO2 cao ra ngoài môi trường. Việc sản xuất khi chứa lượng phát thải khí CO2 lớn tác động đến môi trường, hay đây còn gọi là “rò rỉ carbon” làm suy yếu nghiêm trọng mục tiêu trung hòa khí hậu của EU và toàn cầu. Để ngăn chặn nguy cơ rò rỉ này, EU quyết định cân bằng giá carbon giữa sản phẩm nội địa và nhập khẩu bằng CBAM.
EU cũng tin rằng, khi áp dụng CBAM - một cơ chế xanh đối với các mặt hàng nhập khẩu từ phía bên ngoài EU, thông qua hệ thống định giá hợp lý đối với lượng carbon thải ra trong quá trình sản xuất sẽ khuyến khích ngành công nghiệp xanh hơn ở các nước ngoài EU. CBAM được coi là một chính sách được được đưa ra nhằm giải quyết nguy cơ rò rỉ carbon liên quan đến các mặt hàng nhập khẩu vào EU. CBAM với mục đích ngăn ngừa việc rò rỉ carbon ra môi trường, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon trên toàn cầu. CBAM sẽ giúp tạo ra sự bình đẳng cho các ngành công nghiệp của EU và với các mặt hàng của các nước khi xuất khẩu hàng hóa sang EU, đồng thời góp phần giảm lượng khí thải carbon trên toàn thế giới.
Khi mới áp dụng, CBAM sẽ áp dụng cho một số mặt hàng có sử dụng hàm lượng carbon lớn và có nguy cơ rò rỉ carbon cao nhất như xi măng, sắt và thép, nhôm, phân bón, điện và hydro. Sau đó sẽ mở rộng sang tất cả các ngành, các lĩnh vực khi nhập khẩu vào EU. Phạm vi phát thải của lượng carbon ra ngoài môi trường theo cơ chế CBAM khá rộng, bao gồm lượng phát thải trực tiếp từ các sản phẩm doanh nghiệp, việc tính toán lượng phát thải liên quan (tổng lượng phát thải khí CO2 cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm) của các sản phẩm trong phạm vi CBAM và lượng phát thải gián tiếp (lượng phát thải điện được sử dụng trong quá trình sản xuất các sản phẩm trong phạm vi tại nước sở tại). Đối với các hàng hóa nhập khẩu vào EU trong các lĩnh vực công nghiệp có chứa cường độ phát thải carbon cao, ví dụ như sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón và điện.
Đây là những mặt hàng sẽ chịu sự tác động của cơ chế CBAM. Các nhà nhập khẩu sẽ phải mua một chứng chỉ CBAM cho mỗi tấn carbon dioxide tương đương (CO2tđ) có trong sản phẩm. mặt hàng khi nhập khẩu vào EU. Một tấn CO2tđ có nghĩa là một tấn của bất kỳ sự kết hợp nào của khí CO2, nitơ oxit (NO2) và perfluorocarbons (PFCs).
Giá của mỗi chứng chỉ CBAM dựa trên giá trung bình hàng tuần của giá đấu giá một tấn CO2tđ trong hệ thống EU ETS và sẽ được Ủy ban Châu Âu công bố rộng rãi và áp dụng thống nhất trong toàn EU. Hàng hóa được lưu giữ tại các cảng sẽ không bị đánh thuế cho đến khi thực sự vào thị trường EU. Để có thể triển khai, thực hiện cơ chế chính sách CBAM một cách thích hợp và hiệu quả thì cần có một cơ quan đứng ra để điều hành và quản lý đó là Ủy ban châu Âu (EC). EC là cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm quản lý và điều phối tổng thể việc vận hành cơ chế CBAM trên toàn EU.
Để có thể quản lý dễ dàng hơn EC đã thành lập một Trung tâm Cơ sở dữ liệu để quản lý trực tiếp dữ liệu liên quan đến CBAM và một cơ quan có thẩm quyền ở mỗi quốc gia sẽ phụ trách các hoạt động của CBAM như cấp chứng chỉ cho các Đại lý được ủy quyền khai báo và tiếp nhận và xử lý các đơn xin cấp và thanh toán chứng chỉ. EC sẽ công bố công khai danh sách các cơ quan này. Cơ quan có thẩm quyền sẽ tạo sổ đăng ký quốc gia của những Đại lý được ủy quyền khai báo cho mỗi quốc gia, mỗi đại lý sẽ được cấp một mã riêng duy nhất, để đảm bảo thông tin nội bộ. Cơ quan hải quan tại cửa khẩu của các nước EU sẽ thực hiện các hoạt động hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu khi vào EU phải tuân theo CBAM, chẳng hạn như kiểm tra việc thanh toán cho các chứng chỉ CBAM và hàng hóa nhập khẩu, xử lý thủ tục hải quan và trao đổi thông tin với đại lý được ủy quyền khai báo, nhà nhập khẩu và cơ quan có thẩm quyền về tình trạng hàng hóa nhập khẩu áp dụng CBAM.
Để các quốc gia có thể hiểu rõ hơn về lộ trình thực hiện CBAM, Liên minh châu Âu (EU) đã xây dựng các mốc thời gian và lộ trình thực hiện CBAM như sau: Vào ngày 16/05/2023: Ủy ban châu Âu về thiết lập CBAM tại EU theo quy định (EU) 2023/956 ngày 10/5/2023 và bắt đầu có hiệu lực. Từ ngày 01/10/2023 đến ngày 31/12/2025: Đây là giai đoạn chuyển tiếp kể từ khi CBAM có hiệu lực. Trong giai đoạn này, các nhà nhập khẩu có nghĩa vụ báo cáo lượng phát thải khí CO2 của các sản phẩm của mình khi xuất khẩu sang EU. Doanh nghiệp nhập khẩu tại EU phải báo cáo về lượng khí thải nhà kính của một số sản phẩm nhập khẩu vào EU.
Điều này sẽ giúp EU có thể dễ dàng theo dõi được lượng khí thải CO2 của các doanh nghiệp. Theo quy định của CBAM hiện nay, trong giai đoạn chuyển tiếp, các mặt hàng áp dụng cơ chế này bao gồm sắt thép, nhôm, điện, xi măng, phân bón và hydrogen. Đây là những sản phẩm chiếm tới 94% lượng khí thải công nghiệp của EU. Đến cuối năm 2025 Ủy ban châu Âu (EC) sẽ đánh giá về hoạt động của CBAM và có thể mở rộng phạm vi sang nhiều sản phẩm và dịch vụ khác.
Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 31/12/2034: Đây là giai đoạn vận hành cơ chế CBAM. Trong giai đoạn vận hành từ 2026-2034, các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của CBAM tại EU sẽ phải mua chứng chỉ CBAM. Trước ngày 31/5 hàng năm, các nhà nhập khẩu EU phải báo cáo về số lượng hàng hóa và lượng phát thải tích hợp các mặt hàng được nhập khẩu. Đồng thời, nhà nhập khẩu nộp lại số lượng chứng chỉ CBAM tương ứng với lượng phát thải khí nhà kính có trong mỗi sản phẩm.
Các doanh nghiệp sản xuất có thể mua chứng nhận CBAM từ cơ quan có thẩm quyền được chỉ định ở nước sở tại thuộc thành của EU và giá của chứng nhận này sẽ căn cứ vào giá trung bình của giá phát thải EU ETS (hiện nay đang ở mức 80-100 EUR/tấn carbon tương đương) Từ ngày 01/01/2034, CBAM chính thức đi vào vận hành toàn bộ, các nhà máy, doanh nghiệp sẽ không còn được cấp hạn ngạch phát thải CO2 miễn phí và phải nộp 100% phí CBAM. CBAM là cơ chế có vai trò quan trọng đối với EU và các nước trên thế giới, vì có tác động lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường, kinh tế cũng như hoạt động thương mại của các nước, khu vực trên thế giới. Chính vì vậy mà đề xây dựng CBAM, EU đã có những kế hoạch, quy định, lộ trình thực hiện chi tiết cụ thể. Để các doanh nghiệp trong và ngoài EU có thể nắm bắt được các quy định của CBAM.