Chương 1: Các vấn đề lý luận về hành nghề luật sư Chương 2: Thực trạng pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam 6 z CHƢƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƢ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hành nghề luật sƣ 1.1 Khái niệm luật sư, hành nghề luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý Từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại đến thời kỳ Trung cổ, nghề luật sư đã xuất hiện trong đời sống xã hội tuy nhiên vẫn mang tính tự phát và Luật sư thời kỳ này không thể hiện rõ và đầy đủ các tính chất nghề nghiệp của họ, vai trò của luật sư bị hạn chế bởi chế độ xã hội chuyên quyền hà khắc. Đến chế độ tư bản, các cuộc đấu tranh vì dân chủ, bình đẳng diễn ra thường xuyên đã buộc chính quyền các nước tư sản phải mở rộng quyền dân chủ cho người dân, “nhu cầu của người dân đối với việc được đảm bảo quyền và lợi ích của mình trên cơ sở các quy định pháp luật luôn thường trực. Nghề luật sư thể hiện vai trò to lớn của mình, dần hình thành một nghề tự do” [8]. Hiện nay, ở các nước phát triển, nghề luật sư lại càng được trân trọng, và thực sự nghề luật sư luôn là một trong những nghề được yêu thích nhất.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niê ̣m luâ ̣t sư và hành nghề luâ ̣t sư. Đa ̣i từ điể n Tiế ng Viê ̣t do Nhà xuấ t bản Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Thành phố Hồ Chí Minh đinh ̣ nghiã Luâ ̣t sư là “người có chức trách dùng pháp luâ ̣t bào chữa cho bi ̣can trước Tòa án ” [51, tr970]. Theo cách hiểu của dân gian thì “Luật” ở đây là luật pháp, còn “sư” nghĩa là thầy ; Luật sư có nghĩa là người thầy trong liñ h vực pháp luật (người ta còn go ̣i là thầy cãi ). Tuy nhiên các khái niệm này chỉ đề cập tới một khía cạnh cụ thể của luật sư đó là tranh tụng chưa giúp người đọc có được cái nhìn khái quát, toàn diện về khái niệm luật sư.
Lại có quan niệm khác cho rằng : “Luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia” [8]. Khái niệm này lại quá rộng , chưa phân biê ̣t đươ ̣c luâ ̣t sư với những người hành nghề liên quan đế n pháp luâ ̣t khác như thẩ m phán , kiể m sát viên, (ở Việt Nam), công tố viên (ở Mỹ), ủy viên công tố (ở Cộng hòa Czech)…. Khái quát các quan niệm trên có thể đưa ra khái niệm : Luật sư là những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về luật sư nhằm thực hiện các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng. 7 z Về khái niệm hành nghề luật sƣ và khái niệm cung cấp dịch vụ pháp lý.
Từ các quan niệm khác nhau về luật sư, khái niệm hành nghề luật sư cũng còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất. Theo cách hiểu của dân gian luật sư là thầy cãi và cách định nghĩa về luật sư của đại từ điển Tiế ng Viê ̣t do Nhà xuấ t bản Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Thành phố Hồ Chí Minh thì hành nghề luật sư là việc luật sư tranh tụng bảo vệ quyền lợi cho các đương sự trong quá trình xét xử của Tòa án. Tuy nhiên các khái niệm trên đều mới chỉ đề cập tới một lĩnh vực hành nghề của luật sư đó là tranh tụng nên chưa đúng và đầy đủ. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn nghiên cứu hoạt động hành nghề luật sư dưới góc độ thương mại.
Theo đó, hoạt động hành nghề luật sư là một hoạt động thương mại do tổ chức hành nghề luật sư tiến hành, cung ứng dịch vụ pháp lý tới khách hàng, với mục đích nhận thù lao. Quan niệm trên phát sinh thêm một khái niệm cần làm rõ là khái niệm dịch vụ pháp lý. Hiện nay còn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ pháp lý. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (viết tắt là GATS) không định nghĩa dịch vụ pháp lý mà chỉ liệt kê các loại DVPL.
Trong khuôn khổ của Hiệp định GATS, các loại DVPL này được hiểu là các loại DVPL mang tính thương mại. Theo phân loại của WTO, dịch vụ được chia thành 11 ngành chính, mỗi ngành chính lại phân chia thành nhiều phân ngành nhỏ, tổng số gồm 155 phân ngành. Dịch vụ kinh doanh là một trong 11 ngành chính và dịch vụ pháp lý là một phân ngành của Dịch vụ kinh doanh. Theo “Bảng phân loại các ngành dịch vụ” của WTO “dịch vụ pháp luật” được liệt kê với tư cách là tiểu ngành dịch vụ của “dịch vụ chuyên môn” nằm trong ngành dịch vụ thứ nhất: “1.
Dịch vụ kinh doanh”. Dịch vụ pháp luật được chia thành nhiều loại: Dịch vụ tư vấn và tranh tụng trong nhiều lĩnh vực pháp luật ; Dịch vụ tư vấn và tranh tụng liên quan đến luật hình sự ; Dịch vụ tư vấn và tranh tụng về các thủ tục tại tòa án liên quan đến các lĩnh vực pháp luật khác; Dịch vụ tư vấn và tranh tụng về các thủ tục theo quy định của luật thành văn tại các tổ chức mang tính tòa án; Dịch vụ cung cấp và chứng nhận hồ sơ pháp luật; Dịch vụ khác về thông tin pháp luật và tư vấn. 8 z Theo Từ điể n Luâ ̣t ho ̣c của Viê ̣n Khoa ho ̣c pháp lý , "dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ do nh ững tổ chức , cá nhân có hiểu biết , có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện , nhằ m đáp ứng nhu cầu được biết, đươ ̣c tư vấ n hoă ̣c giúp đỡ về mă ̣t pháp lý của các tổ ch ức, cá nhân trong xã hô ̣i". Theo Nguyễn Văn Tuấ n "dịch vụ pháp lý là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luâ ̣t và dich ̣ vu ̣ đa ̣i diê ̣n pháp lý… những người đủ tiêu chuẩ n để cung cấ p DVPL chỉ có thể là luật sư ".
Theo đó , phạm vi D VPL đươ ̣c xác đinh ̣ gồ m : Dịch vụ tư vấn pháp luật; Dịch vụ đại diện pháp lý (trong tố tu ̣ng tư pháp , trong thủ tu ̣c hành chính, tố tu ̣ng tro ̣ng tài và đa ̣i diê ̣n theo uỷ quyề n về những vấ n đề liên quan đế n pháp luâ ̣t ; Các hoạt đô ̣ng DVPL khác (soạn thảo hợp đồng, các giấy tờ pháp lý…) [47, Tr 46]. Nguyễn Văn Tuân thì "phạm vi dịch vụ pháp lý bao gồ m dịch vụ pháp lý của luật sư với bốn lĩnh vực hành nghề như pháp luật hiện hành quy định tư vấ n pháp luâ ̣t, tranh tu ̣ng, đa ̣i diê ̣n và dịch vụ pháp lý khác và dịch vụ pháp lý của tổ chức, đoàn thể xã hô ̣i với hoa ̣t đô ̣ng chủ yế u là tư vấ n pháp luâ ̣t theo Nghi ̣đinh ̣ 65/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về tổ chức , hoạt động tư vấn pháp luật" [46, Tr 18]. Đặng Vũ Huân thì "dịch vụ pháp lý là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý được định lập và thực hiện theo quy định pháp luật của nước nơi các dịch vụ đó được định lập và có thể được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục tố tụng khác nhau của hệ thống pháp luật quốc gia" [18, Tr 10]. Theo Nguyễn Như Chiń h "Dịch vụ thương mại pháp lý là loại hình dịch vụ liên quan tới liñ h vực pháp luâ ̣t mà công việc của bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng để hưởng lơ ̣i nhuâ ̣n có liên quan chă ̣t chẽ với các vấ n đề pháp luâ ̣t , quyề n và nghiã vu ̣ theo pháp luâ ̣t mà bên sử du ̣ng dich ̣ vu ̣ quan tâm ".
Có thể nhận thấy đa số các nghiên cứu về dịch vụ pháp lý tại Việt Nam đều tiếp cận dịch vụ pháp lý dưới góc độ thương mại. Từ các khái niệm dịch vụ pháp lý như trên, có thể đưa ra khái niệm cung cấp dịch vụ pháp lý như sau: Cung cấp dịch vụ pháp lý là là một hoạt động thương mại 9 z dịch vụ gắn liền với pháp luật do các tổ chức đủ điều kiện theo quy định của pháp luật cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu về pháp lý của các tổ chức, cá nhân. Theo khái niệm trên thì hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm cả hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức hành nghề thừa phát lại. Tuy nhiên trong khuôn khổ Luận văn, chỉ nghiên cứu dịch vụ pháp lý được cung ứng bởi tổ chức hành nghề luật sư, tập trung giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan tới giao dịch cung cấp dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư.
Theo đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đi sâu phân tích vấn đề hành nghề luật sư dưới góc độ là một hoạt động thương mại do các tổ chức hành nghề luật sư tiến hành với nội dung là cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng và mục đích là nhận thù lao.2 Đặc điểm của hoạt động hành nghề luật sư Hoạt động hành nghề luật sư là một hoạt động thương mại. Hiện nay đa số các nước trên thế giới đều thừa nhận cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư là một hoạt động vừa mang tính nghề nghiệp, vừa mang tính lợi nhuận. Vì lợi nhuận mà tiến hành các hoạt động hành nghề luật sư. Khi thành lập các tổ chức hành nghề luật sư, hầu hết các quốc gia đều mượn hình thức của các doanh nghiệp thông thường.
Ở Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Hoạt động hành nghề luật sư là hoạt động nghề nghiệp nhưng vì mục tiêu lợi nhuận. Trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam cũng dành cho Hoạt động pháp luật một mã ngành riêng. Hiệp định chung về thương mại Dịch vụ GATS và hiệp định thương mại Việt Mỹ đều có quy định về các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư.