CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về đánh giá tác động môi trường trong khu công nghiệp 1. Khái niệm đánh giá tác động môi trường Khái niệm ĐTM xuất hiện trên cơ sở khái niệm môi trường. Ngày nay các thuật ngữ "môi trường" và các khái niệm có liên quan như "ô nhiễm môi trường", "suy thoái môi trường", "sự cố môi trường", "hệ sinh thái", "đa dạng sinh học",.
ngày càng được sử dụng rộng rãi trong khoa học, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong nhân dân và trong các văn bản của Nhà nước. Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Tất cả những biến đổi của môi trường đòi hỏi phải có những biện pháp xử lý thích hợp. Một trong các biện pháp đó là ĐTM.
ĐTM (tên tiếng Anh là Environmental Impact Assessment - viết tắt là EIA) là một khái niệm pháp lý mới so với nhiều khái niệm pháp lý truyền thống khác như hợp đồng, quyền sở hữu, tài sản,. Tuy nhiên, khác với các khái niệm pháp lý khác là phải mất nhiều thời gian, thậm chí tới hàng trăm năm mới hoàn thiện và có sự ảnh hưởng trên quy mô toàn cầu, ĐTM chỉ mới xuất hiện được chưa lâu đã trở thành một chế định pháp lý phổ biến trong hệ thống pháp luật của đa số các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, Luật BVMT qua các thời kỳ đều nêu khái niệm rất cụ thể về ĐTM. Khoản 11, Điều 2, Luật BVMT, năm 1993 đã đưa ra định nghĩa chính thức: “ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển KT-XH, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về BVMT”.
Khoản 20, Điều 3, Luật BVMT năm 2005 đã đưa ra định nghĩa khá ngắn gọn về ĐTM: “ĐTM là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của 12 dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp BVMT khi triển khai dự án đó”. Khoản 23 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 định nghĩa: “ĐTM là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp BVMT khi triển khai dự án đó”. Và mới nhất, khoản 7 Điều 3 Luật BVMT năm 2020 định nghĩa: “ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường”. Như vậy, ta thấy được sự khác nhau trong cách đưa ra khái niệm về ĐTM qua các giai đoạn của luật BVMT.
Tại luật BVMT 1993, với tư cách là Luật BVMT đầu tiên nên khái niệm về ĐTM được quy định theo hướng liệt kê cụ thể các đối tượng (theo lĩnh vực và mang tính tổng quát) phải thực hiện ĐTM, còn trong Luật BVMT 2005, 2014 và 2020 thì khái niệm không liệt kê đối tượng phải thực hiện ĐTM mà chỉ quy định theo hướng chung quy, tức là quy tụ thành một đối tượng chung và “dự án đầu tư” là cụm từ được sử dụng để có thể bao hàm tất cả các đối tượng cụ thể trong các quy định chi tiết về đối tượng phải thực hiện ĐTM. Đối với khái niệm tại Luật BVMT 2005 và 2014, các nhà làm luật đã sử dụng hai từ “phân tích” và “dự báo” để diễn đạt nên ĐTM. Bên cạnh đó tại Luật BVMT 1993 lại có thêm từ “đánh giá”, cho thấy sau khi luật BVMT 2005 và 2014 ra đời thì các nhà làm luật đã lược bỏ từ “đánh giá” đối với khái niệm ĐTM trong luật BVMT 1993. Nhưng đến Luật BVMT 2020, thì từ “đánh giá” đã được sử dụng trở lại và bổ sung thêm từ “nhận dạng” để thể hiện sự hoàn thiện trong việc đưa ra khái niệm về ĐTM, bên cạnh đó thay từ “việc” thành từ “quá trình” để thấy được đây là một hoạt động hết sức cần thiết, quan trọng và cần một khoảng thời gian dài để có thể làm rõ được bản chất của ĐTM.
Ý nghĩa của quá trình đánh giá tác động môi trường ĐTM đã cho thấy được tầm quan trọng cũng như tính “cấp thiết” của hoạt động này, bên cạnh đó đã đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - BVMT: Một là, ĐTM tạo điều kiện cho các dự án có cơ hội được thực hiện trên thực tế. Qua việc thực hiện ĐTM, các nhà đầu tư có thể tự đánh giá về khả năng, 13 phạm vi, quy mô cũng như các nguyên nhân gây tác động và các đối tượng mà dự án tác động đến, từ đó đưa ra những phương án, lựa chọn thay thế, những biện pháp loại trừ, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đáp ứng được các yêu cầu của Nhà nước đặt ra về môi trường cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc cho phép thực hiện dự án. Ngoài ra, hoạt động này cũng giúp tránh việc có các tác động tiêu cực đến môi trường của các dự án đầu tư vì cho phép thực hiện một cách “đại trà, không kiểm soát”. Hai là, ĐTM không chỉ nhìn vào cái đơn, cái riêng lẻ mà còn nhắm vào cái chung, cái tổng thể.
Nhìn vào bản chất của quá trình ĐTM thì cơ bản nó sẽ thể hiện được bản chất của từng dự án trong việc phân tích, đánh giá, dự báo,…về các tác động của dự án đến môi trường. Nhưng đó là việc thực hiện ĐTM đối với một dự án riêng lẻ, không những thế ĐTM còn được thực hiện trên cơ sở xem xét đồng thời cùng với các dự án khác, các tác động tiêu cực khác tới môi trường. Qua đó, đánh giá được những tác động tiêu cực tích lũy, tổng hợp của nhiều dự án hay mở rộng hơn là thực hiện ĐTM chung đối với khu vực, vùng hoặc cấp quốc gia thậm chí là cấp quốc tế. Ba là, ĐTM góp phần nâng cao sự hiểu biết và trách nhiệm đối với môi trường.
Thông qua việc thực hiện ĐTM, không chỉ tác động tích cực đến chủ đầu tư, cơ qua nhà nước mà còn tác động đến các tổ chức, cộng đồng dân cư, cụ thể: + Đối với chủ đầu tư, ĐTM cũng như là một yêu cầu mang tính trách nhiệm pháp lý và khi đáp ứng các yêu cầu theo quy định pháp luật cũng là lúc chủ đầu tư dự án hoàn thành việc thực hiện ĐTM. Với việc hoàn thành ĐTM đã giúp cho các chủ đầu tư nhận thức được tầm quan trọng của môi trường, nâng cao trách nhiệm hơn nữa trong việc BVMT. + Đối với cơ quan nhà nước, ĐTM là một công cụ thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc gắn phát triển kinh tế với công tác BVMT, trách nhiệm trong việc quản lý, kiểm soát và tạo cơ hội cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án vì mục đích cá nhân nói riêng và mục tiêu của quốc gia về môi trường nói chung. Bên cạnh đó, ĐTM góp phần trong việc đưa tầm quan trọng của môi trường gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước và nâng cao 14 nhận thức, trách nhiệm trong việc BVMT của nhà nước nói chung và của chính những người làm công tác môi trường nói riêng.
+ Đối với các tổ chức, cộng đồng dân cư và cá nhân, thông qua các lần tham vấn lấy ý kiến các tầng lớp trong xã hội, đặt biệt là các đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dự án, được tham gia vào hoạt động ĐTM, được nêu ý kiến, được giải trình làm rõ các vấn đề thắc mắc, góp phần nâng cao nhận thức trong việc BVMT sống xung quanh mình, hiểu được tầm quan trọng của môi trường, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc BVMT. Qua việc tác động trực tiếp đến các chủ thể liên quan đến quá trình ĐTM đã hình thành mối quan hệ, sự tương tác qua lại giữa cơ quan nhà nước, chủ dự án, các tổ chức khác, cộng đồng dân cư và cá nhân. Từ đó tạo thành mối liên hệ, tác động và ràng buộc với nhau về mặt trách nhiệm, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực hiện ĐTM góp phần vào nhiệm vụ chung là BVMT. Khái quát pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong khu công nghiệp 1.
Khái niệm pháp luật đánh giá tác động môi trường Theo cách hiểu chung nhất, pháp luật là hệ thống các quy phạm hoặc quy tắc hành vi, quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc chung, phổ biến và được thực hiện lâu dài nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành được thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế. Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của đời sống xã hội và Nhà nước, là công cụ để Nhà nước thực hiện quyền lực của mình. Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường cũng như khả năng tác động ở mức độ lớn của các dự án phát triển, Nhà nước đã hình thành một công cụ để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện dự án thông qua “Pháp luật về ĐTM” được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật môi trường có liên quan. Và với việc hình thành nên hệ thống pháp luật về ĐTM cũng như vai trò, tầm quan trọng to lớn góp cái riêng vào cái chung trong việc điều chỉnh các vấn đề phát sinh liên quan đến môi trường đối với quá trình thực hiện 15 dự án, từ đó ta có thể định nghĩa rằng: “Pháp luật về ĐTM là hệ thống các quy phạm pháp luật bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến hoạt động ĐTM để đạt được mục đích chung là bảo vệ, đảm bảo cho môi trường ở trạng thái tốt nhất và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước”.