Tổng quan về luận án
Bối cảnh tự do hóa tài chính và sự vận hành của mô hình ngân hàng hai cấp theo cơ chế thị trường tại Việt Nam đã thúc đẩy sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại (NHTM). Tuy nhiên, đặc thù của hoạt động ngân hàng – lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tiềm ẩn rủi ro hệ thống cao và gắn liền trực tiếp với an ninh tiền tệ quốc gia – khiến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) có sức tàn phá vượt trội so với các ngành thương mại thông thường. Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam" (Chuyên ngành Luật Kinh tế, Mã số: 62 38 01 07) do nghiên cứu sinh Viên Thế Giang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Minh tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam là công trình khoa học tiên phong tiếp cận toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ luật học về chế định pháp lý đặc thù này.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án xác định là sự thiếu đồng bộ, xung đột và khoảng trống lập pháp giữa Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010. Mặc dù Khoản 3 Điều 9 Luật các TCTD năm 2010 chính thức quy định "nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng", song suốt thời gian dài hệ thống pháp luật thiếu vắng các văn bản hướng dẫn cụ thể hóa cấu thành hành vi và chế tài xử lý. Các nghiên cứu trước đó của Kiều Hữu Thiện (2012) chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học kinh tế, hoặc các bài viết của Nguyễn Kiều Giang (2007) mới dừng ở việc bình luận một số hành vi đơn lẻ theo Luật Cạnh tranh.
Luận án thiết lập 03 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:
- Bản chất pháp lý, đặc điểm và cấu trúc nội dung của pháp luật về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng là gì trong tương quan giữa chuẩn mực đạo đức kinh doanh và quy phạm pháp luật thực định?
- Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hành vi CTKLM của các NHTM đang tồn tại những bất cập, xung đột và rào cản thực thi nào khi đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế?
- Cần xác lập quan điểm, định hướng và các giải pháp lập pháp - hành pháp nào để hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam?
Tương ứng với đó, 03 giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng:
- $H_1$: Pháp luật về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng mang tính chất lưỡng dụng đặc thù kết hợp giữa luật công và luật tư, có sự khác biệt bản chất so với pháp luật cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh doanh thông thường.
- $H_2$: Các quy định pháp luật hiện hành chưa bao quát được các thủ đoạn CTKLM tinh vi (lách trần lãi suất, áp đặt phí dịch vụ bất hợp lý, gièm pha thông tin rủi ro) và thiếu cơ chế phối hợp xử lý giữa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Cơ quan quản lý cạnh tranh.
- $H_3$: Việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt hướng dẫn xác định hành vi và cơ chế áp dụng chuẩn mực đạo đức/án lệ là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an toàn hệ thống NHTM.
Phạm vi nghiên cứu bao quát các hoạt động ngân hàng cốt lõi (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán) của toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam (NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh và 100% vốn nước ngoài) từ giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế thị trường đến năm 2014.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy hai luồng quan điểm lớn về mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng:
Luồng quan điểm thứ nhất nhấn mạnh sự xung đột giữa cạnh tranh và an toàn hệ thống (Competition-Fragility Hypothesis). Nghiên cứu tiêu biểu của Thorsten Beck (2008) "Bank competition and Financial stability: Friend or Foes?" trình bày tại Hội nghị G20 chỉ ra rằng mở rộng tự do cạnh tranh không kiểm soát trong khu vực ngân hàng làm xói mòn quyền lực thị trường, thúc đẩy các TCTD chấp nhận rủi ro quá mức, dẫn đến nguy cơ đổ vỡ mang tính hệ thống và vô hiệu hóa năng lực giám sát của các cơ quan quản lý. Tương tự, Xavier Vives (IESE Business School) trong "Competition and regulation in banking" cũng chứng minh lĩnh vực ngân hàng từng được miễn trừ áp dụng luật cạnh tranh phổ quát chính vì yêu cầu bảo đảm an toàn chi trả.
Luồng quan điểm thứ hai ủng hộ việc áp dụng đầy đủ luật cạnh tranh cho khu vực tài chính (Competition-Stability Hypothesis). Maria-Eleni K. Delis và Fotios Pasiouras (2009) khi phân tích dữ liệu tại các quốc gia chuyển đổi Trung và Đông Âu (1998–2005) khẳng định các quy tắc pháp lý điều tiết cạnh tranh lành mạnh giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng và tình trạng mất khả năng thanh toán. Mamico Yokoi-Arai và Takeshi Kawana (2007) trong "Competition Policy in the Banking Sector of Asia" cho rằng áp dụng luật cạnh tranh không làm tổn hại an toàn ngân hàng nếu có cơ chế phối hợp minh định giữa Ngân hàng Trung ương và cơ quan cạnh tranh quốc gia. Báo cáo của Centre for European Policy Studies (CEPS, 2009) về "Tying and other potentially unfair commercial practices in the retail financial service sector" nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm soát các hành vi bán kèm và thực tiễn thương mại không công bằng để bảo vệ người tiêu dùng tài chính.
Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Như Phát (2001, 2006), Bùi Nguyên Khánh (2001), Đặng Vũ Huân (2002), Phạm Duy Nghĩa (2004), Lê Danh Vĩnh (2006), Tăng Văn Nghĩa (2009), Lê Anh Tuấn (2009) đã đặt nền móng lý luận về pháp luật cạnh tranh nhưng chủ yếu tiếp cận ở quy mô kinh tế tổng thể. Các dự án nghiên cứu như MUTRAP II (Báo cáo SERV 3, 2006) bước đầu so sánh kinh nghiệm của Trung Quốc, EU và các nước Đông Âu (Ba Lan, Hungary, Séc).
Luận án định vị vị trí học thuật bằng việc khắc phục triệt để khoảng trống nghiên cứu liên ngành Kinh tế - Luật học: Luận giải thấu đáo bản chất của CTKLM trong ngân hàng không chỉ dừng lại ở hành vi bất hợp pháp theo nghĩa hẹp, mà là sự vi phạm các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và tập quán thương mại ngân hàng, đặt trong mối tương quan hữu cơ giữa pháp luật công (can thiệp quản lý nhà nước) và pháp luật tư (bảo vệ quyền dân sự của chủ thể kinh doanh và khách hàng).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án kế thừa và phát triển lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill) về tự do thương mại; trường phái tân cổ điển và lý thuyết can thiệp vĩ mô của J.M. Keynes về sự điều tiết của Nhà nước nhằm khắc phục thất bại thị trường. Đóng góp lý thuyết nổi bật gồm:
- Mở rộng nội hàm khái niệm CTKLM trong hoạt động ngân hàng: Luận chứng rằng CTKLM trong ngân hàng rộng hơn khái niệm cạnh tranh bất hợp pháp. Hành vi CTKLM có thể không vi phạm trực tiếp điều cấm cụ thể của luật thực định nhưng đi ngược lại chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường và tập quán nghề nghiệp ngân hàng, gây tổn hại hoặc đe dọa tổn hại đến thanh khoản đối thủ và an toàn hệ thống.
- Phát triển lý thuyết kiểm soát hành vi dựa trên mục đích và tác động: Phản biện trực diện quan điểm trong Dự thảo Nghị định của NHNN (2011) vốn giới hạn CTKLM ở hành vi "vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận". Tác giả chứng minh trên thực tế nhiều TCTD sẵn sàng "hy sinh lợi nhuận" ngắn hạn (bù lỗ, cung cấp dịch vụ dưới giá thành, trả lãi suất ngầm vượt trần) nhằm mục đích triệt hạ đối thủ hoặc tranh giành thị phần bất chính.
- Xác lập mô hình tương tác đa chiều giữa 5 nhóm lợi ích được pháp luật bảo vệ: Lợi ích công cộng/ổn định chính sách tiền tệ quốc gia; Lợi ích của các TCTD đối thủ; Quyền của người gửi tiền; Quyền tiếp cận vốn bình đẳng của người vay; và An toàn của toàn bộ mạng lưới thanh toán liên ngân hàng.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích tích hợp 03 lý thuyết: Lý thuyết Pháp luật Cạnh tranh hiện đại, Lý thuyết Rủi ro Hệ thống Ngân hàng (Systemic Risk Theory) và Lý thuyết Đạo đức Kinh doanh (Business Ethics). Khung tiếp cận xác lập ranh giới phân tích thông qua:
- Tiếp cận lưỡng nguyên (Public-Private Dualism): Kết hợp công cụ quản lý hành chính - mệnh lệnh của NHNN (can thiệp trần lãi suất, hạn mức tín dụng, giám sát an toàn vi mô/vĩ mô) với công cụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và phục hồi quyền lợi dân sự theo Luật Tư.
- Nguyên tắc nhận diện hành vi dựa trên Chuẩn mực thị trường tối thiểu: Xác định hành vi CTKLM qua phép thử 3 bước: (i) Tính chất hành vi đơn phương vì mục đích cạnh tranh; (ii) Sự vi phạm quy tắc ứng xử trung thực/tập quán ngân hàng; (iii) Hậu quả thực tế hoặc nguy cơ gây méo mó thị trường tiền tệ và suy giảm niềm tin công chúng.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp trường phái Pháp lý thực định (Legal Positivism) và Tiếp cận Luật học - Xã hội (Socio-legal approach). Thiết kế nghiên cứu đa tầng kết hợp:
- Tầng phân tích chuẩn tắc (Normative Legal Analysis): Mổ xẻ hệ thống quy phạm pháp luật quốc gia (Luật Cạnh tranh 2004, Luật NHNN 2010, Luật các TCTD 2010, Bộ luật Dân sự 2005) và các hiệp định thương mại quốc tế (Cam kết WTO, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ BTA).
- Tầng phân tích thực chứng (Empirical Analysis): Khảo sát thực tiễn diễn biến cạnh tranh trên thị trường tiền tệ Việt Nam giai đoạn 1990–2014, trọng tâm là giai đoạn biến động lãi suất và tái cơ cấu ngân hàng 2008–2013.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý thông tin tuân thủ tiêu chuẩn học thuật nghiêm ngặt:
- Phương pháp phân tích logic quy phạm: Đánh giá tính thống nhất, đồng bộ, các điểm mâu thuẫn về thẩm quyền điều tra, xử lý giữa Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công thương) và Thanh tra, giám sát NHNN.
- Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law): Đối chiếu hai mô hình lập pháp điển hình trên thế giới:
- Mô hình quy định cụ thể từng hành vi CTKLM đặc thù trong hoạt động ngân hàng (Kinh nghiệm Luật Ngân hàng thương mại và Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc).
- Mô hình áp dụng nguyên tắc chung của luật cạnh tranh kết hợp án lệ và quy chế chuyên ngành (Pháp, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa Kỳ và các chỉ thị của Liên minh Châu Âu EU).
- Phương pháp chuyên gia và tổng hợp dữ liệu thứ cấp: Sử dụng dữ liệu báo cáo thường niên của NHNN, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), kết quả khảo sát nhận thức cạnh tranh ngân hàng của Kiều Hữu Thiện (2012) và các vụ việc điển hình trên thực tế.
Data và phân tích
- Phân tích toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm 04 đạo luật trụ cột, hơn 20 Nghị định, Thông tư của NHNN và Bộ Công thương liên quan đến thị trường tiền tệ.
- Dữ liệu thực tiễn phản ánh các đợt "chạy đua lãi suất huy động" giai đoạn 2008-2011 (lãi suất huy động danh nghĩa 14%/năm nhưng lãi suất chi ngoài, thưởng tiền mặt, khuyến mại vàng đẩy chi phí vốn thực tế lên 18-21%/năm).
- Phân tích định tính các case study thực tế: Vụ việc tung tin đồn thất thiệt gây khủng hoảng rút tiền hàng loạt (bank run) tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) năm 2003; các biểu hiện bán chéo sản phẩm cưỡng ép (tying/bundling) và thu phí cấp tín dụng trái quy định tại các NHTM cổ phần.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án mang lại 5 phát hiện then chốt mang tính thực chứng và pháp lý:
- Bộc lộ xung đột thẩm quyền và khoảng trống cưỡng chế: Luật Cạnh tranh 2004 quy định thẩm quyền điều tra, xử lý hành vi CTKLM thuộc về Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh. Trong khi đó, Luật các TCTD 2010 giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể hành vi và biện pháp xử lý cho ngành ngân hàng, tạo nên sự đùn đẩy trách nhiệm và khoảng trống thực thi. Hệ quả là suốt giai đoạn nghiên cứu, hầu như không có vụ việc CTKLM ngân hàng nào bị Cơ quan quản lý cạnh tranh khởi tố xử lý chính thức.
- Chỉ rõ sự lạm dụng các công cụ cạnh tranh phi chuẩn mực: Các NHTM Việt Nam thường xuyên lạm dụng 04 nhóm hành vi CTKLM:
- Vi phạm trần lãi suất huy động bằng các hợp đồng ủy thác đầu tư, chi hoa hồng môi giới ngoài sổ sách;
- Ép buộc khách hàng vay vốn chịu các loại phí dịch vụ vô lý (phí thu xếp vốn, phí quản lý tài sản, yêu cầu gửi lại một phần tiền vay với lãi suất thấp);
- Gièm pha, loan tin thất thiệt về thanh khoản, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đối thủ;
- Khuyến mại gian dối, mập mờ trong công bố biểu phí và lãi suất cho vay thực tế.
- Sự thiếu hụt của cơ chế trách nhiệm dân sự và hình sự: Xử lý vi phạm trong ngành ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào xử phạt vi phạm hành chính của NHNN. Thiếu vắng hoàn toàn các vụ kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (theo Điều 604, Điều 630 Bộ luật Dân sự 2005) do người gửi tiền hoặc NHTM đối thủ khởi xướng vì rào cản chứng minh thiệt hại thực tế.
- Hạn chế nghiêm trọng về nhận thức đạo đức kinh doanh: Thị trường ngân hàng Việt Nam phát triển nhanh về lượng nhưng chậm về chất. Tác giả trích dẫn nhận định sâu sắc của Phạm Duy Nghĩa: “Việt Nam trở thành một thị trường dễ tính cho đủ loại hàng hóa và thói quen kinh doanh lạc hậu. Trong môi trường kinh doanh hỗn tạp như vậy, chẳng những người tiêu dùng, người kinh doanh đứng đắn bị thiệt hại mà đạo đức xã hội bị xói mòn, pháp luật bị khinh nhờn và hình ảnh của cơ quan công lực trong nhận thức của người dân cũng có phần bị ảnh hưởng” [73, tr.771].
- Bất cập trong Dự thảo Nghị định hướng dẫn của NHNN: Dự thảo đưa tiêu chí "vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận" thành dấu hiệu bắt buộc là sai lầm về mặt lý luận, tạo kẽ hở cho các hành vi bán phá giá dịch vụ và cạnh tranh không lành mạnh phi lợi nhuận lẩn tránh chế tài.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Bổ sung vào khoa học luật kinh tế hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng, phân định ranh giới giữa quy chuẩn pháp luật thực định và quy chuẩn đạo đức thương mại.
- Về mặt lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Chính phủ và NHNN trong việc xây dựng Nghị định hướng dẫn Khoản 3 Điều 9 Luật các TCTD 2010; định hướng sửa đổi Luật Cạnh tranh và Luật các TCTD theo hướng tương thích.
- Về mặt thực thi chính sách: Kiến nghị thành lập cơ chế giám sát phối hợp liên ngành (Joint Competition Enforcement Protocol) giữa NHNN và Bộ Công thương, trao quyền cho Hiệp hội Ngân hàng ban hành Bộ Quy tắc Đạo đức Nghề nghiệp có giá trị tham chiếu pháp lý khi Tòa án xét xử.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu:
- Dữ liệu thực chứng về các vụ xử lý vi phạm CTKLM chính thức còn hạn chế do tính chất bảo mật của ngành ngân hàng và tâm lý e ngại tổn hại uy tín thương hiệu của các TCTD nên phần lớn các tranh chấp được hòa giải nội bộ hoặc xử lý kín bằng biện pháp hành chính của NHNN.
- Giới hạn thời gian nghiên cứu (trước năm 2015) chưa phản ánh được các hành vi CTKLM công nghệ cao phát sinh trong kỷ nguyên số hóa ngân hàng (Fintech, Mobile Banking, Open Banking, cạnh tranh dữ liệu người dùng).
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Nghiên cứu hành vi CTKLM trong không gian số: Bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) cưỡng ép, thuật toán định giá phân biệt đối xử và bảo vệ dữ liệu khách hàng.
- Hoàn thiện chế tài trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong lĩnh vực cạnh tranh ngân hàng theo Bộ luật Hình sự sửa đổi.
- Đánh giá tác động của Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật các TCTD năm 2024 đối với môi trường cạnh tranh ngân hàng.
Tác động và ảnh hưởng
- Giá trị học thuật: Công trình là tài liệu chuyên khảo tham khảo bắt buộc cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng tại các cơ sở đào tạo luật lớn ở Việt Nam.
- Tác động lập pháp: Các luận điểm của luận án đã đóng góp vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, góp phần định hình tư duy lập pháp trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật các TCTD và sửa đổi Luật Cạnh tranh.
- Lợi ích thị trường: Giúp các NHTM thiết lập hệ thống kiểm soát tuân thủ (Compliance Control), xây dựng môi trường cạnh tranh minh bạch, bảo vệ tối đa quyền lợi người gửi tiền và giảm thiểu rủi ro lan truyền trong hệ thống thanh khoản quốc gia.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học: Khai thác cơ sở lý luận, phương pháp luận so sánh luật học và hệ thống trích dẫn đa ngành để phát triển các đề tài liên quan.
- Cơ quan hoạch định chính sách (Quốc hội, NHNN, Bộ Công thương): Sử dụng các khuyến nghị để xây dựng thông tư, nghị định và tối ưu hóa quy trình thanh tra, giám sát ngân hàng.
- Hội đồng quản trị, Ban điều hành các NHTM: Tham khảo để rà soát chiến lược marketing, biểu phí, quy trình cấp tín dụng, ngăn ngừa rủi ro pháp lý về cạnh tranh.
- Thẩm phán, Trọng tài viên, Luật sư: Vận dụng khung lý luận về đạo đức kinh doanh và bồi thường thiệt hại để giải quyết các tranh chấp thương mại ngân hàng.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đó là việc mở rộng nội hàm lý luận pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng vượt ra ngoài khái niệm cạnh tranh bất hợp pháp truyền thống. Tác giả chứng minh rằng do tính chất trừu tượng và đặc thù rủi ro hệ thống của dịch vụ ngân hàng, pháp luật phải sử dụng các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và tập quán thương mại ngân hàng làm nguồn bổ khuyết trực tiếp để nhận diện hành vi vi phạm, đồng thời bác bỏ tiêu chí "vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận" làm điều kiện cấu thành.
2. Điểm đổi mới về mặt phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?
So với nghiên cứu thuần túy kinh tế học của Kiều Hữu Thiện (2012) hay nghiên cứu quy phạm tổng quát của Nguyễn Như Phát (2001), luận án tích hợp phương pháp tiếp cận liên ngành Kinh tế - Luật học (Law and Economics) với phương pháp so sánh luật học đa chiều (đối chiếu mô hình Trung Quốc quy định hành vi chuyên biệt với mô hình Châu Âu/Pháp dựa trên án lệ và điều khoản mở), đặt trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam.
3. Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất là gì?
Sự tồn tại của nghịch lý: Hoạt động CTKLM trên thị trường ngân hàng diễn ra hết sức phức tạp, đa dạng và gây tổn hại nghiêm trọng đến chính sách tiền tệ (điển hình là các cuộc chạy đua lãi suất ngầm và tin đồn rút tiền hàng loạt), nhưng trên bình diện pháp lý thực định, số vụ việc được đưa ra điều tra, xử lý theo Luật Cạnh tranh xấp xỉ bằng không do sự xung đột thẩm quyền thể chế giữa NHNN và Bộ Công thương.
4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức thực thi khả thi không?
Có. Tác giả đề xuất quy trình lập pháp 2 cấp: (1) Ban hành Nghị định chuyên ngành quy định danh mục mở các hành vi CTKLM ngân hàng đặc thù; (2) Thiết lập Quy chế phối hợp điều tra liên ngành giữa Thanh tra NHNN và Cơ quan Quản lý Cạnh tranh, kèm cơ chế ủy thác chuyên môn khi giám định mức độ ảnh hưởng đến thị trường tài chính.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào?
Tập trung vào chuyển đổi số ngành ngân hàng: Kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh trên các nền tảng công nghệ tài chính (Fintech), độc quyền dữ liệu mở (Open Banking Data), các rào cản gia nhập thị trường đối với ngân hàng số và hoàn thiện cơ chế trách nhiệm hình sự của pháp nhân ngân hàng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS Viên Thế Giang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu khoa học với 5 kết luận cốt lõi:
- Xác lập hệ thống cơ sở lý luận vững chắc khẳng định pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng là một chế định đặc thù mang tính lưỡng dụng (kết hợp công pháp và tư pháp) nhằm bảo vệ đồng thời an toàn hệ thống tiền tệ và quyền tự do kinh doanh bình đẳng.
- Làm rõ nội hàm hành vi CTKLM trong ngân hàng: bao gồm mọi hành vi đơn phương vì mục đích cạnh tranh, vi phạm chuẩn mực đạo đức kinh doanh và tập quán ngân hàng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho đối thủ, người tiêu dùng và trật tự công cộng.
- Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng pháp luật Việt Nam, chỉ rõ các điểm nghẽn về mâu thuẫn thẩm quyền giữa Luật Cạnh tranh và Luật các TCTD, sự thiếu vắng các chế tài dân sự/hình sự và hạn chế trong các dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đề xuất định hướng lập pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam: Lựa chọn mô hình kết hợp giữa quy định cụ thể các hành vi đặc thù (huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán) với quy định điều khoản quét/điều khoản mở dựa trên tập quán thương mại và án lệ.
- Kiến nghị hệ thống giải pháp tổ chức thực hiện đồng bộ: Tăng cường phối hợp thể chế giữa NHNN và Cơ quan quản lý cạnh tranh, nâng cao vai trò giám sát đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội Ngân hàng, và hoàn thiện cơ chế tố tụng tư pháp bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho các chủ thể bị xâm phạm.