Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 1. Các quan niệm về bán phá giá hàng hóa nhập khẩu Có nhiều cách hiểu khác nhau về bán phá giá, dưới góc độ học thuật, bán phá giá hàng hóa nhập khẩu được hiểu ngắn gọn là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa. Ví dụ Từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng bán phá giá (dumping) được hiểu là việc bán một hàng hoá ở nước ngoài với mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước [57, tr 282]; Theo Từ điển chính sách thương mại: phá giá được hiểu là thực tiễn bán hàng của một công ty với giá bán ra nước ngoài thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước (giá nội địa của nước xuất khẩu) [35, tr 82]; cuốn Black’s Law dictionary định nghĩa phá giá là hành vi bán hàng hoá ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa [93, tr 518].
Theo cách hiểu này, bán phá giá hàng hóa nhập khẩu là sự phân biệt giá của cùng loại sản phẩm tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu và tiêu thụ trên thị trường nước nhập khẩu. Do đó, để xác định việc bán phá giá, người ta phải tính toán được giá xuất khẩu và giá bán trên thị trường xuất khẩu của hàng hóa (còn gọi là giá nội địa). Dưới góc độ pháp lý, khái niệm pháp lý về bán phá giá lần đầu tiên được ghi nhận trong đạo luật thuế hải quan Canađa được thông qua ngày 10 tháng 8 năm 1904. Sau đó, New Zealand và Úc cũng ban hành các văn bản pháp luật về chống bán phá giá vào năm 1905 và 1906.
Khi chống bán phá giá đã trở thành một nội dung quan trọng trong pháp luật thương mại quốc tế thì khái niệm bán phá giá cũng được ghi nhận tại Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1947 (gọi tắt là GATT) và trong Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)1.1 của ADA quy định: trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một 1 Còn gọi là Hiệp định chống bán phá giá của WTO (viết tắt là ADA).1 của ADA lặp lại khái niệm bán phá giá được quy định trong điều VI của GATT 1947.1 của GATT 1947 quy định “các thành viên ký kết của GATT thừa nhận rằng bán phá giá, nghĩa là các sản phẩm của một quốc gia đưa vào giao lưu thương mại tại một quốc gia khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của các sản phẩm đó…”. 9 nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. Về cơ bản, khái niệm pháp lý giống với các khái niệm học thuật khi cho rằng bán phá giá là hiện tượng phân biệt giá song căn cứ để xác định không còn là giá bán của hàng hóa trên thị trường xuất khẩu và trên thị trường nhập khẩu mà là giá xuất khẩu (giá bán vào thị trường nhập khẩu) và giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu. Giá trị thông thường không phải là giá nội địa của hàng hóa bị điều tra mà là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu.
Giá thông thường được hiểu là “mức giá chuẩn” mà các DN áp dụng cho các giao dịch mua bán trên thị trường nước xuất khẩu. Để có thể xác định được “mức giá chuẩn” trong mọi tình huống, các nhà làm luật đã đặt ra nhiều tiêu chuẩn và phương pháp tính toán phức tạp và mềm dẻo. Những thay đổi trong khái niệm pháp lý về bán phá giá đã giải quyết được trường hợp không thể xác định được giá bán trên thị trường nội địa của hàng hóa bị điều tra do chúng được sản xuất chỉ để xuất khẩu hoặc giá bán hàng hóa trên thị trường nội địa không bình thường do thấp hơn chi phí sản xuất hoặc là giá bán độc quyền…. Kết quả so sánh hai chỉ số giá trên chưa phản ánh ưu thế cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa nội địa của nước nhập khẩu mà chỉ cho thấy hiện tượng phân biệt giá của sản phẩm nhập khẩu.
Muốn xác định ưu thế cạnh tranh về giá của hàng hóa nhập khẩu, cần tiến hành so sánh giữa giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu và giá bán của hàng hóa cạnh tranh nội địa. Kết quả so sánh có thể là2: Thứ nhất, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào thấp hơn giá thông thường trên thị trường xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh nội địa. Trong tình huống này, hiện tượng bán phá giá vẫn tồn tại song hàng hóa nội địa đang có lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nhập khẩu. Do đó, việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá không thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.
Thứ hai, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá bán của sản phẩm cạnh tranh nội địa nên có lợi thế cạnh tranh về giá. Khi đó, các DN nội địa sản xuất sản phẩm cạnh tranh bị đẩy vào tình trạng hoặc phải hạ giá bán để giữ khách hàng hoặc mất thị phần với giá bán hiện tại. Trong tình huống này, có hai giả định được đặt ra: 2 Các tình huống này được đặt ra trong điều kiện hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa cạnh tranh nội địa chỉ cạnh tranh về giá, các điều kiện cạnh tranh khác là giống nhau và không thay đổi. 10 - Giả định hàng hóa nhập khẩu không bán phá giá (giá xuất khẩu không thấp hơn giá thông thường).
Giá của hàng hóa nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh do chi phí sản xuất thấp hơn của sản phẩm nội địa. Thị trường nhập khẩu đang được hưởng lợi từ hàng hóa nhập khẩu vì người tiêu dùng có cơ hội mua hàng hóa giá rẻ. - Giả định có hiện tượng bán phá giá (giá xuất khẩu thấp hơn giá thông thường) thì hiện tượng bán phá giá đang tạo lợi thế cạnh tranh một cách không công bằng cho hàng hóa nhập khẩu trước hàng hóa nội địa. Các biện pháp chống bán phá giá cần được áp dụng để bảo vệ ngành sản xuất nội địa trước thiệt hại do bán phá giá gây ra.
Như vậy, hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu không đương nhiên đưa đến kết quả là hàng hóa nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh so với sản phẩm cạnh tranh nội địa. Ngược lại, khi hàng hóa nhập khẩu có ưu thế cạnh tranh về giá so với sản phẩm nội địa, không nên vội vàng kết luận có hiện tượng bán phá giá. Vấn đề được đặt ra là cần có cơ chế để phân biệt hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu với việc hàng hóa nhập khẩu được bán với giá rẻ do có lợi thế cạnh tranh lành mạnh; cần phân biệt bán phá giá có khả năng hay không có khả năng gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa. Tại Việt Nam, các nhà làm luật có những quan niệm khác nhau về bán phá giá.
Sự khác nhau này được thể hiện qua hai văn bản pháp luật là Pháp lệnh giá năm 2002 (gọi tắt là Pháp lệnh giá) và Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 (gọi tắt là Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu). Trong Pháp lệnh giá năm 2002, bán phá giá được hiểu là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nước [81, k3 đ4]. Với khái niệm trên, hành vi bán phá giá được xác định từ hai dấu hiệu: - DN đã bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường của nó trên thị trường Việt Nam. Phương thức để xác định bán phá giá theo Pháp lệnh giá là so sánh hai chỉ số giá: giá bán thực tế và giá thông thường của sản phẩm bị điều tra.
Tuy nhiên, hai chỉ số này đều được xác định từ thị trường Việt Nam. Do đó, hành vi bán phá giá trong Pháp lệnh giá không phải là hiện tượng phân biệt giá mà chỉ là việc bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá không theo đúng giá trị thông thường của sản phẩm. 11 - Mục đích của hành vi là chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh khác, lợi ích của Nhà nước. Do đó, nếu chưa xác định được mục đích của hành vi thì chưa thể kết luận DN đã bán phá giá hàng hóa, dịch vụ.
Khoản 1 và 2 Điều 1 Pháp lệnh giá quy định: Pháp lệnh này quy định quản lý nhà nước về giá và hoạt động về giá của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh; và Pháp lệnh này áp dụng áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam [81, k1, 2 Đ 1]. Căn cứ vào quy định này, tác giả cho rằng cần phải làm rõ một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng quy định về bán phá giá trong Pháp lệnh giá. (1) Văn bản này chỉ giới hạn đối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mà không phân biệt về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ, nên quy định về bán phá giá có thể áp dụng đối với sản phẩm nội địa (được sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam) và sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với hàng hóa nhập khẩu, các quy định về bán phá giá chỉ điều chỉnh hành vi tiêu thụ hàng hóa đó trên thị trường Việt Nam mà không áp dụng đối với việc nhập khẩu chúng.
(2) Với hàng hóa nhập khẩu, Pháp lệnh giá được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh chúng tại Việt Nam đã có hành vi bán hàng với mức giá quá thấp so với giá thông thường.