Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Luật học với đề tài "Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam" (tên trên trang bìa: "Pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam") do nghiên cứu sinh Đặng Công Hiến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Nguyên Khánh. Công trình thuộc ngành Luật Kinh tế, mã số chuyên ngành 9.07, được hoàn thành và bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ việc bảo đảm an toàn thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người, sự duy trì và phát triển nòi giống, cũng như tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường và tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại, công tác kiểm soát an toàn thực phẩm đối mặt với hàng loạt thách thức: việc kiểm soát nhập khẩu thực phẩm không bảo đảm vệ sinh, phụ gia thực phẩm độc hại, hóa chất bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi, sinh vật lạ và sản phẩm biến đổi gen. Đồng thời, công tác quản lý lưu thông hàng hóa thực phẩm, các cơ sở giết mổ, hệ thống kinh doanh dịch vụ ăn uống, quy trình sản xuất nông nghiệp và phòng chống dịch bệnh còn gặp nhiều khó khăn, dẫn tới các vụ ngộ độc thực phẩm và lây lan dịch bệnh.

Thương mại giữ vai trò cầu nối trung gian đưa sản phẩm thực phẩm từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng; do đó, các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại hàng thực phẩm giữ vai trò trọng yếu. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ hạn chế, chưa đồng bộ, chưa thống nhất và thiếu tính khả thi; tình hình vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại diễn biến phức tạp, trong khi năng lực xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng còn hạn chế. Mặt khác, các công trình khoa học trước đó chủ yếu tiếp cận vấn đề an toàn thực phẩm dưới góc độ y tế, thực phẩm học hoặc nghiên cứu pháp luật an toàn thực phẩm nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống ở cấp độ tiến sĩ về pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam; từ đó đề xuất các yêu cầu và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu hệ thống nhằm làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại;
  2. Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam;
  3. Xây dựng những yêu cầu đặt ra và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.

Giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm giả thuyết bao trùm và giả thuyết đặc thù:

  • Giả thuyết bao trùm: Hoạt động thương mại hàng thực phẩm diễn ra trên thị trường vận hành theo cơ chế thị trường, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế (cung - cầu, giá trị, cạnh tranh). Quyền lợi của người tiêu dùng thực phẩm và lợi ích xã hội đang bị xâm phạm bởi các hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn; do đó xuất hiện nhu cầu hoàn thiện pháp luật để hạn chế và triệt tiêu các hành vi này.
  • Giả thuyết đặc thù: Mảng pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay chưa đầy đủ, chưa toàn diện, còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tính thực tiễn và đòi hỏi phải được hoàn thiện trên nền tảng các nguyên lý khoa học, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và thực tiễn hành pháp tại Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể như sau:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Quan niệm như thế nào về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại? Bảo đảm an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại có ý nghĩa ra sao đối với đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Quan niệm thế nào về pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại? Nội dung và vai trò của nó ra sao?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Những yêu cầu đặt ra và giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại của Việt Nam? Cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay?

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào 3 nhóm đối tượng:

  • Các quan điểm, lý luận khoa học về pháp luật nói chung và pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại nói riêng;
  • Các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại của Việt Nam;
  • Thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại tại Việt Nam.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian và nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu các quy định pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thương mại trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát dữ liệu, văn bản và thực tiễn thi hành trong giai đoạn 2011 - 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả tiến hành khảo cứu và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu lý luận về an toàn thực phẩm và pháp luật an toàn thực phẩm:

  • Dưới góc độ thực phẩm học và quản lý tổng quát: Giáo trình "Vệ sinh và an toàn thực phẩm" của TS. Phạm Đức Lượng và TS. Phạm Minh Tâm (2004); "An toàn thực phẩm" của PGS.TS. Trần Đáng (2008); Giáo trình "Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm" của Nhà xuất bản Giáo dục (2009); Giáo trình "Vệ sinh an toàn thực phẩm" của Lê Thị Hồng Ánh (2017); sách chuyên khảo "An toàn thực phẩm nông sản, một số hiểu biết về sản phẩm, hệ thống sản xuất, phân phối và chính sách của nhà nước" của PGS.TS. Phạm Vũ Hải và TS. Đào Thế Anh (2016). Các nghiên cứu quốc tế gồm công trình "Food Safety: Theory and Practice" của Jones & Bartlett (2011) và "Food Safety: The Science of Keeping Food Safe" của Ian C.
  • Dưới góc độ khoa học pháp lý: Tham luận "Các điều kiện cần và đủ nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới" của Lê Doãn Diện (2009); Luận văn thạc sĩ "Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm" của Nguyễn Ngân Giang (2012); Luận văn thạc sĩ "Thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay" của Nhâm Thúy Lan (2012); Luận văn thạc sĩ "Pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam" của Đặng Công Hiến (2012). Các ấn phẩm quốc tế gồm: "Food Regulation and Trade: Toward a Safe and Open Global Food System" của Donna Roberts, David Orden, Tim Josling (2004); "Nutraceutical and Functional Food Regulations in the United States and Around the World" của Debasis Bagchi (2008); "Food Law and Regulation for Non-Lawyers: A US Perspective" của Marc Sanchez (2014); "Food Regulation - Food Safety, Recalls, Claims, Additives, Allergens and Biotechnology" của Roseann B.; "Food and Drug Regulation in an Era of Globalized Markets" của Sam F. Halabi (2015).

Thứ hai, các nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành:

  • Các bài báo và công trình trong nước: Bài viết của Hằng Nga (2008) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; các nghiên cứu của Trương Thị Thúy Thu (2008, 2010); bài viết của Nguyễn Thị Thu Hằng (2014) trên Tạp chí Quản lý Nhà nước; bài viết của Nguyễn Thị Thu Thảo (2014) trên Tạp chí Khoa học pháp lý; sách "Những vấn đề cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khỏe của con người - hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phụ gia thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm" của Quý Long và Kim Thư (2010); "Cẩm nang an toàn thực phẩm trong kinh doanh" của Vụ Thị trường trong nước - Bộ Công Thương (2014); Luận văn thạc sĩ của Trần Mai Vân (2013) về thi hành pháp luật tại cấp phường trên địa bàn Hà Nội; Báo cáo khảo sát của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2016); Báo cáo số 211/BC-CP ngày 18/05/2017 của Chính phủ và Báo cáo kết quả giám sát giai đoạn 2011 - 2016 của Quốc hội.
  • Các ấn phẩm pháp lý nước ngoài: "Food and Drug Law" của Peter Hutt và Richard Merrill (2013); "Food Regulation: Law, Science, Policy, and Practice" của Neal D.; "EU Food Law Handbook" của Bernd Van Der Meulen (2014).

Thứ ba, các nghiên cứu về kiến nghị và giải pháp:

  • Nhóm công trình đề xuất giải pháp của các tác giả Nguyễn Huy Quang (2010), Trần Thu Hương (2010), Hà Thị Anh Đào (2009), Báo cáo nghiên cứu "Quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam, những thách thức và cơ hội" của Ngân hàng Thế giới (2017), và công trình "Foundations of EU Food Law and Policy: Ten Years of the European Food Safety Authority" của Alberto Alemanno và Simone Gabbi (2014).
Nhóm nghiên cứu trước Tác giả tiêu biểu và công trình Giới hạn nội dung đã đạt được Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết
Lý luận về an toàn thực phẩm và pháp luật ATTP Phạm Đức Lượng & Phạm Minh Tâm (2004); Lê Thị Hồng Ánh (2017); Lê Doãn Diện (2009); Nguyễn Ngân Giang (2012); Nhâm Thúy Lan (2012); Donna Roberts và cộng sự (2004). Tiếp cận ATTP dưới góc độ khoa học thực phẩm; nghiên cứu pháp luật ATTP chung hoặc dừng lại ở khía cạnh quản lý nhà nước; chưa phân tích chuyên biệt pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại. Luận giải và xác lập các khái niệm: "an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại", "pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại"; xác định vai trò xã hội và nội dung cơ bản của mảng pháp luật này.
Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành Hằng Nga (2008); Trương Thị Thúy Thu (2008, 2010); Đặng Công Hiến (2012); Trần Mai Vân (2013); Báo cáo 211/BC-CP (2017); Báo cáo giám sát của Quốc hội; Bernd Van Der Meulen (2014). Phân tích quy định pháp luật chung hoặc khảo sát theo địa bàn hẹp (cấp phường); các báo cáo quản lý chỉ phản ánh số liệu tổng thể, chưa phân tích thực trạng pháp luật chuyên sâu trong khâu thương mại. Phân tích có hệ thống các chế định pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động thương mại thực phẩm; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật giai đoạn 2011 - 2016 và chỉ ra nguyên nhân của các bất cập.
Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện Nguyễn Huy Quang (2010); Trần Thu Hương (2010); Phạm Vũ Hải & Đào Thế Anh (2016); World Bank (2017); Sam F. Halabi (2015). Đưa ra các kiến nghị mang tính đơn lẻ, phân tán, nặng về biện pháp hành chính kỹ thuật hoặc tập trung vào an toàn nông sản tại nguồn; thiếu tính đồng bộ và tầm nhìn dài hạn cho khâu thương mại. Xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể, đồng bộ gồm cả nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật chuyên biệt cho hoạt động thương mại.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết bao gồm:

  1. Về lý luận: Xây dựng hoàn chỉnh khái niệm định nghĩa về "an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại" và "pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại"; xác định cụ thể các thuộc tính, vai trò xã hội và cấu trúc nội dung của mảng pháp luật này từ góc độ khoa học pháp lý kinh tế.
  2. Về thực tiễn: Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống về hệ thống quy phạm pháp luật thực định và thực tế thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016, phân định rõ các kết quả đạt được, những hạn chế cùng căn nguyên của các tồn tại đó.
  3. Về giải pháp: Khắc phục tính cục bộ, phân tán của các kiến nghị trước đây bằng cách xác lập các yêu cầu có tính định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, kết hợp giữa việc sửa đổi quy định pháp luật và nâng cao năng lực tổ chức thi hành trên thực tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng 5 lý thuyết và khung phân tích nền tảng:

  1. Lý thuyết "Kinh tế có điều tiết" do John Maynard Keynes (1884 - 1946) khởi xướng: Luận giải sự cần thiết khách quan của việc Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thị trường thông qua công cụ pháp luật nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực, nâng cao tính cạnh tranh lành mạnh và bảo đảm phát triển bền vững.
  2. Lý thuyết về mối quan hệ biện chứng và phổ biến giữa Nhà nước, người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng: Đặt mối quan hệ của ba chủ thể này dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường cơ bản (quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị và quy luật cung - cầu), từ đó phân định rõ vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của từng chủ thể trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.
  3. Lý thuyết về "Luật tự nhiên" (tiêu biểu là Aristote, 384 - 322 TCN): Được sử dụng như phương pháp luận tiếp cận pháp luật thực định; xem việc pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe và giống nòi của con người là bảo vệ các quyền tự nhiên, khách quan và vốn có của con người từ khi sinh ra.
  4. Lý thuyết về "Quyền tự nhiên" của con người (phát triển bởi Thomas Hobbes, John Locke, Thomas Paine): Xác định quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe khi tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa là quyền tự nhiên không thể tước đoạt; Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm việc thực thi quyền này bằng công cụ pháp luật.
  5. Lý thuyết "Công lý như là công bằng" của John Rawls (1922 - 2002): Tiếp cận nguyên tắc bình đẳng và công bằng xã hội trong các quan hệ kinh tế; các cá nhân tự do có lý trí thỏa thuận xác lập các quy chuẩn chung nhằm bảo vệ trật tự xã hội và lợi ích của mọi thành viên.

Về phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: Luận án áp dụng hướng tiếp cận định tính từ góc độ khoa học pháp lý, kết hợp phương pháp liên ngành và đa ngành khoa học xã hội; nghiên cứu gắn kết giữa pháp luật thực định và thực tiễn vận hành xã hội. Luận án không sử dụng các mô hình kinh tế lượng, kiểm định định lượng hay thống kê suy diễn.

Phương pháp luận chỉ đạo: Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử xuyên suốt các chương để phân tích sự phát triển của hệ thống pháp luật trong mối liên hệ với điều kiện kinh tế - xã hội.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng phần:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Là hai phương pháp chủ đạo được áp dụng trong toàn bộ luận án.
  • Tại Chương 1: Phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp được dùng để điểm luận công trình nghiên cứu đi trước, xác định khoảng trống nghiên cứu.
  • Tại Chương 2: Phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp luật học so sánh, đối chiếu được áp dụng để làm rõ cơ sở lý luận, so sánh các khái niệm an toàn thực phẩm theo luật pháp quốc tế (FAO, WHO, Nhật Bản) và pháp luật Việt Nam.
  • Tại Chương 3: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử, so sánh và thống kê mô tả được dùng để đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và các báo cáo tình hình thực hiện trong giai đoạn 2011 - 2016.
  • Tại Chương 4: Phương pháp quy nạp, phân tích và tổng hợp được dùng để xây dựng các yêu cầu và đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp 2013, Luật An toàn thực phẩm 2010, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006, cùng các Nghị định, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành.
  • Hệ thống báo cáo thực tiễn: Báo cáo số 211/BC-CP ngày 18/05/2017 của Chính phủ về tình hình thực thi chính sách, pháp luật quản lý an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016; Báo cáo giám sát tối cao của Quốc hội giai đoạn 2011 - 2016; Báo cáo kết quả dự án điều tra cơ bản của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2016); Báo cáo đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm của Ngân hàng Thế giới (2017).
  • Các điều ước và tiêu chuẩn quốc tế: Hiệp định SPS, Hiệp định TBT của WTO; Công ước IPPC; các tiêu chuẩn quốc tế của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (CODEX), Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), Tiêu chuẩn ISO, quy chuẩn GMP, HACCP; cùng các đạo luật chuyên ngành của Hoa Kỳ (FDA) và Liên minh Châu Âu (EU).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung: lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn thực phẩm. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận vấn đề an toàn thực phẩm dưới lăng kính kỹ thuật, thực phẩm học hoặc luật hành chính thuần túy về quản lý nhà nước, trong khi khía cạnh pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại hàng thực phẩm chưa được nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện.

Chương này xác lập khung cơ sở lý thuyết gồm 5 lý thuyết: lý thuyết kinh tế có điều tiết của Keynes, lý thuyết quan hệ biện chứng giữa Nhà nước - người sản xuất kinh doanh - người tiêu dùng, lý thuyết luật tự nhiên của Aristote, lý thuyết quyền tự nhiên (Hobbes, Locke, Paine) và lý thuyết công lý của Rawls. Từ đó, tác giả cụ thể hóa giả thuyết bao trùm, giả thuyết đặc thù và 4 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo, đồng thời xác lập hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm và pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

Chương 2 làm rõ nội hàm các khái niệm nền tảng:

  • "An toàn thực phẩm": Phân tích khái niệm an toàn thực phẩm (food safety) từ góc độ khoa học thực phẩm (khả năng không gây nguy hại đối với con người do các tác nhân sinh học, hóa học hoặc vật lý) sang góc độ khoa học pháp lý. Tác giả đối chiếu định nghĩa theo luật pháp Nhật Bản (Điều 4 Luật Vệ sinh thực phẩm 1947, sửa đổi 2005), định nghĩa của FAO, WHO/FAO và quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 của Việt Nam ("an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người"). Luận án thống nhất sử dụng định nghĩa theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010 làm cơ sở phân tích pháp lý.
  • "Hoạt động thương mại": Được xem xét dưới hai cấp độ nghĩa. Theo nghĩa rộng (đồng nhất với hoạt động kinh doanh theo khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014), thương mại bao gồm toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi. Theo nghĩa hẹp (khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005), hoạt động thương mại tập trung vào khâu lưu thông, phân phối và dịch vụ (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại). Luận án xác định an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại tập trung điều chỉnh các hành vi lưu thông, phân phối, trao đổi, dịch vụ ăn uống và xuất nhập khẩu thực phẩm.
  • "Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại": Tác giả xác lập định nghĩa, phân tích các đặc điểm cấu thành và chỉ rõ ba vai trò xã hội cơ bản của hệ thống pháp luật này: (1) Bảo vệ quyền sống, quyền được bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng; (2) Thiết lập trật tự kỷ cương thị trường, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bằng thực phẩm bẩn, thực phẩm giả; (3) Tạo lập môi trường pháp lý thúc đẩy thương mại tự do, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và đáp ứng các nghĩa vụ, cam kết quốc tế trong thương mại hàng hóa.
  • Nội dung cơ bản của pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại được xác định gồm: quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm; quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; quy định về ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm; quy định về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước; và quy định về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm.

Chương 3: Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện

Chương 3 phân tích thực trạng văn bản pháp luật và thực tiễn thi hành giai đoạn 2011 - 2016:

  • Thực trạng quy định pháp luật thực định: Tác giả rà soát 5 nhóm quy định:
    1. Điều kiện kinh doanh thực phẩm: Phân tích các điều kiện gia nhập thị trường, cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, các trường hợp được miễn cấp giấy chứng nhận.
    2. Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm: Rà soát các quy chuẩn đối với trang thiết bị, dụng cụ sản xuất, bảo quản, vận chuyển, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến và truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
    3. Quảng cáo và ghi nhãn hàng hóa thực phẩm: Phân tích các quy tắc bắt buộc về nội dung nhãn, công bố hợp quy, xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm đặc thù (thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất).
    4. Trách nhiệm quản lý nhà nước: Đánh giá cơ chế phân công quản lý liên ngành giữa 3 bộ trọng yếu (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương) theo Nghị định 38/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm. Tác giả chỉ ra sự chồng chéo, phân khúc quản lý theo chuỗi sản phẩm còn kẽ hở, hiện tượng đùn đẩy hoặc trùng lặp thẩm quyền kiểm tra đối với các cơ sở kinh doanh nhiều mặt hàng thực phẩm hỗn hợp.
    5. Trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm: Đánh giá các chế tài hành chính (theo Nghị định 178/2013/NĐ-CP), chế tài dân sự (bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) và chế tài hình sự (Điều 244 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2009 và Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm).
  • Thực tiễn thực hiện pháp luật giai đoạn 2011 - 2016: Dựa trên số liệu từ Báo cáo số 211/BC-CP ngày 18/05/2017 của Chính phủ và Báo cáo giám sát của Quốc hội, tác giả đánh giá:
    • Công tác ban hành văn bản quy định chi tiết còn chậm trễ; việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) còn thiếu hụt lớn so với nhu cầu kiểm nghiệm thực tế.
    • Tình hình an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp: tỷ lệ ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính còn ở mức cao; việc lạm dụng hóa chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chất bảo quản trong lưu thông thương mại chưa được ngăn chặn triệt để.
    • Công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm: Số lượng cơ sở được thanh tra, kiểm tra lớn nhưng tỷ lệ xử phạt còn thấp; biện pháp xử lý chủ yếu dừng lại ở nhắc nhở hoặc phạt tiền mức thấp, chưa đủ sức răn đe; cơ chế bồi thường thiệt hại dân sự cho người tiêu dùng khó thực hiện do khó khăn trong việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tiêu dùng thực phẩm và thiệt hại sức khỏe phát sinh.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

Chương 4 xây dựng hệ thống các yêu cầu khách quan và đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện: (1) Phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi của hệ thống pháp luật; (3) Tương thích với các cam kết và chuẩn mực pháp lý quốc tế (các hiệp định SPS, TBT của WTO, tiêu chuẩn CODEX); (4) Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh và thói quen tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành có mâu thuẫn, chồng chéo, loại bỏ các thủ tục hành chính rườm rà cản trở thương mại.
    2. Hoàn thiện các quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong lưu thông, phân phối, đặc biệt là quy chuẩn đối với chợ truyền thống, cơ sở thức ăn đường phố và dịch vụ ăn uống.
    3. Hoàn thiện quy định về quảng cáo và ghi nhãn hàng hóa thực phẩm, kiểm soát chặt chẽ thông tin quảng cáo thực phẩm chức năng và quy định rõ trách nhiệm truy xuất nguồn gốc.
    4. Hoàn thiện quy định về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước: Xác lập cơ chế một đầu mối thống nhất điều phối hoặc làm rõ ranh giới thẩm quyền quản lý giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương; phân định rõ thẩm quyền quản lý đối với chuỗi cung ứng thực phẩm và các cơ sở kinh doanh tổng hợp.
    5. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN): Khẩn trương ban hành bổ sung các QCVN cho từng nhóm sản phẩm thực phẩm, hài hòa hóa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
    1. Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương;
    2. Nâng cao năng lực, phẩm chất và chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý và thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm;
    3. Đầu tư hiện đại hóa và nâng cao năng lực hệ thống các phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, bảo đảm kết quả kiểm nghiệm nhanh chóng, chính xác;
    4. Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền phổ biến kiến thức và pháp luật về an toàn thực phẩm cho thương nhân và người tiêu dùng;
    5. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường và áp dụng nghiêm khắc các chế tài xử lý vi phạm hành chính, hình sự, công khai danh tính cơ sở vi phạm trên phương tiện truyền thông.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 3 đóng góp khoa học mới cơ bản:

Một là, giải quyết thỏa đáng những vấn đề mang tính lý luận của pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại. Luận án phân tích một cách có hệ thống các khái niệm: "an toàn thực phẩm", "hoạt động thương mại", "an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại", "pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại". Đồng thời, tác giả luận giải rõ vai trò của pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại đối với đời sống kinh tế - xã hội, chỉ rõ các nội dung cơ bản cấu thành mảng pháp luật này từ góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế.

Hai là, trên cơ sở phân tích thực trạng văn bản và thực tiễn thi hành giai đoạn 2011 - 2016 tại Việt Nam, luận án tổng kết các ưu điểm, hạn chế, thành công và bất cập của hệ thống pháp luật cũng như công tác tổ chức thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại. Luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất cập, bao gồm nguyên nhân từ sự phân tán trong thể chế quản lý, sự thiếu hụt quy chuẩn kỹ thuật, năng lực kiểm định hạn chế và sự thiếu nghiêm minh trong xử lý vi phạm.

Ba là, luận giải và đề xuất cụ thể hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam. Hệ thống giải pháp được xây dựng trên cơ sở lý luận kinh tế - pháp lý chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa sửa đổi thể chế pháp luật thực định và đổi mới tổ chức bộ máy, năng lực thanh kiểm tra và kiểm nghiệm kỹ thuật.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, công trình kiến nghị Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan:

  • Rà soát, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm 2010 và các văn bản hướng dẫn;
  • Thiết lập cơ chế phân công trách nhiệm quản lý nhà nước minh bạch, giảm thiểu khoảng trống và chồng chéo giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương;
  • Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) phù hợp với chuẩn mực quốc tế;
  • Nâng mức xử phạt hành chính và tăng cường áp dụng chế tài hình sự đối với các hành vi cố ý lưu thông thực phẩm độc hại;
  • Tăng cường đầu tư nguồn lực cho hệ thống kiểm nghiệm và đội ngũ thanh tra chuyên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Về phạm vi thời gian: Luận án tập trung khảo sát thực tiễn pháp luật và tình hình thực thi trong giai đoạn 2011 - 2016. Do đó, các văn bản quy phạm pháp luật và chuyển biến thực tế của thị trường sau năm 2016 (như các nghị định mới thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP hoặc thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự 2015 sau khi có hiệu lực) chưa được phản ánh đầy đủ trong dữ liệu thực nghiệm của luận án.
  • Về phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung vào khâu thương mại (lưu thông, phân phối, trao đổi, dịch vụ ăn uống, xuất nhập khẩu), không đi sâu nghiên cứu toàn diện quy trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp ban đầu (trồng trọt, chăn nuôi, thu hái) vốn thuộc phạm vi rộng lớn của pháp luật nông nghiệp.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong giai đoạn sau năm 2016, đặc biệt là việc thực thi các quy định cải cách thủ tục hành chính trong kiểm tra chuyên ngành thực phẩm xuất nhập khẩu;
  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát pháp lý đối với an toàn thực phẩm trong các phương thức kinh doanh mới, cụ thể là thương mại điện tử, kinh doanh thực phẩm qua mạng xã hội và dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính, Quản lý công: Luận án cung cấp cơ sở lý luận hệ thống, khung phân tích đa ngành (kinh tế học và luật học) và phương pháp luận nghiên cứu về mối quan hệ giữa can thiệp nhà nước và tự do kinh doanh thương mại.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Luật Kinh tế, Pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ, Pháp luật về chất lượng sản phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà lập pháp (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn): Phần phân tích thực trạng tại Chương 3 và hệ thống kiến nghị tại Chương 4 cung cấp căn cứ thực tiễn để phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật An toàn thực phẩm, phân định lại thẩm quyền quản lý liên ngành và hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
  • Đối với lực lượng thực thi pháp luật (quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành ATTP) và cộng đồng doanh nghiệp thực phẩm: Luận án giúp nhận diện rõ các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm bắt buộc, giới hạn pháp lý về quảng cáo, ghi nhãn và các rủi ro pháp lý liên quan đến vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa an toàn thực phẩm và an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại như thế nào?
Luận án căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 để xác định an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Trên cơ sở đó, an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại được hiểu là việc bảo đảm các điều kiện vệ sinh, an toàn đối với thực phẩm trong các công đoạn lưu thông, phân phối, mua bán, bảo quản, vận chuyển, xuất nhập khẩu, xúc tiến thương mại và dịch vụ ăn uống, nhằm ngăn chặn mọi nguy cơ gây hại cho sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng trên thị trường.

2. Các lý thuyết khoa học nền tảng nào được tác giả sử dụng làm khung phân tích cho luận án?
Luận án sử dụng 5 lý thuyết: (1) Lý thuyết "Kinh tế có điều tiết" của John Maynard Keynes; (2) Lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước, người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường (cung - cầu, giá trị, cạnh tranh); (3) Lý thuyết "Luật tự nhiên" của Aristote; (4) Lý thuyết "Quyền tự nhiên" của con người (Thomas Hobbes, John Locke, Thomas Paine); và (5) Lý thuyết "Công lý như là công bằng" của John Rawls.

3. Phạm vi thời gian và đối tượng khảo sát thực tiễn của luận án được giới hạn trong giai đoạn nào?
Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án tập trung khảo sát trong giai đoạn 2011 - 2016. Đối tượng khảo sát là thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tế thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thương mại tại Việt Nam, căn cứ vào các báo cáo chính thức như Báo cáo 211/BC-CP ngày 18/05/2017 của Chính phủ và Báo cáo giám sát chuyên đề của Quốc hội.

4. Những bất cập chủ yếu trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được chỉ ra trong luận án là gì?
Bất cập lớn nhất là sự phân tán và chồng chéo thẩm quyền giữa ba bộ: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương theo quy định của Nghị định 38/2012/NĐ-CP. Mặc dù phân công theo chuỗi sản phẩm nhưng trên thực tế lưu thông thương mại, các cơ sở kinh doanh thường bán nhiều loại thực phẩm hỗn hợp, dẫn đến hiện tượng trùng lặp thanh tra hoặc xuất hiện "khoảng trống" quản lý mà không cơ quan nào chịu trách nhiệm chính.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại?
Luận án đề xuất hai nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, gồm rà soát loại bỏ quy định chồng chéo, hoàn thiện quy định về điều kiện an toàn thực phẩm, ghi nhãn, quảng cáo, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước một đầu mối hoặc cơ chế phối hợp minh bạch, và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN); (2) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi, gồm kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao năng lực cán bộ thanh tra, đầu tư hệ thống kiểm nghiệm, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật và tăng cường xử phạt nghiêm minh các vi phạm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam" của tác giả Đặng Công Hiến là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về phương diện pháp lý kinh tế của an toàn thực phẩm trong khâu lưu thông thương mại. Tác giả đã vận dụng các lý thuyết kinh tế và triết học pháp luật để xây dựng cơ sở lý luận, đồng thời phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016. Công trình chỉ rõ những bất cập về thể chế quản lý liên ngành, sự thiếu hụt quy chuẩn kỹ thuật và hạn chế trong kiểm tra, xử lý vi phạm. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc hoàn thiện các chế định pháp luật thực định và nâng cao năng lực tổ chức thi hành nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân và hội nhập kinh tế quốc tế.