Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lược sử nghiên cứu chim ở việt nam Giai đoạn trước năm 1975: Cuối thế kỷ 19, các nhà tự nhiên học nước ngoài đã có mặt ở Việt Nam, và bắt đầu các cuộc điều tra, nghiên cứu chim trên quy mô lớn. Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài được xuất bản đầu tiên với lô mẫu vật do Pierơ- Giám đốc vườn thú Sài Gòn bấy giờ sưu tầm và công bố (H. Năm 1931, Delacua và Jabuiơ đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim toàn vùng Đông Dương, bao gồm 954 loài và phân loài (Delacour T., 1931), trong đó có các loài chim ở Việt Nam.
Năm 1951, danh lục chim Đông Dương được Delacour bổ sung, hoàn thành và xuất bản gồm 1085 loài và phân loài (J. Delacour, 1951) Sau năm 1954, Miền Bắc giải phóng; đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà điểu học Việt Nam. Các công trình nghiên cứu đáng chú ý là của các tác giả: Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960, 1961), Đỗ Ngọc Quang (1965). Nói chung các công trình nghiên cứu này đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại, ít chú ý đến đặc điểm sinh thái học của loài.
Năm 1971, Võ Quý đã tổng hợp các nghiên cứu hơn 7 năm trước đó về đời sống của các loài chim phổ biến ở Miền Bắc Việt Nam để xuất bản công trình “Sinh học những loài chim thường gặp ở Miền Bắc Việt Nam” (Võ Quý, 1971). Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm sinh vật học của các loài chim có ý nghĩa kinh tế; tuy nhiên các thông tin về đặc điểm sinh thái học mới dừng lại ở cấp độ quần thể và loài. Giai đoạn sau năm 1975: Sau chiến tranh, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; công trình 3 “Chim Việt Nam- Hình thái và phân loại” là công trình đầu tiên nghiên cứu chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt phân loại (Võ Quý, 1975, 1981) Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử đã tổng hợp các kết quả điều tra trước đó để xuất bản công trình “Danh lục chim Việt Nam”. Bản danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995; với mỗi loài các tác giả đã dẫn ra đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995).
Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm phân bố địa lý của loài; tuy nhiên các thông tin về đặc điểm sinh thái học cũng mới dừng lại ở cấp độ quần thể và loài. Năm 2000, Nguyễn Cử và các cộng sự dựa trên cuốn “Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc- 1994” đã biên soạn cuốn Chim Việt Nam. Trong sách các tác giả đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện có ở Việt Nam; mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố tình trạng, nơi ở và có hình vẽ màu kèm theo (Nguyễn Cử, 2000). Nói chung, cuốn sách được biên soạn với mục đích chủ yếu là giúp nhận dạng các loài chim ngoài thực địa.
Những năm gần đây, nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học với sự tài trợ của chính phủ nước ngoài (Hà Lan, Đức, Úc, Anh, Mỹ,.), của các tổ chức phi chính phủ (Birdlife, WWF, FFI, IUCN), ngân sách quốc gia, ngân sách địa phương đã đầu tư nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam, chủ yếu tập trung đầu tư nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; sau đó một loạt kết quả nghiên cứu về hệ động thực vật hoang dã tại các Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được xuất bản. Điều tra nghiên cứu quần xã chim hoang dã thường được tiến hành song song với các nhóm động vật khác. Ban đầu là việc điều tra để lập luận chứng kinh tế- kỹ thuật thành lập khu bảo tồn, sau đó nhiều đợt điều tra nghiên cứu tiếp theo đã hoàn thiện được thành phần loài chim của khu bảo tồn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý tài 4 nguyên chim hoang dã, giúp ban quản lý có thông tin đầy đủ hơn về nguồn tài nguyên chim hoang dã trong khu vực mình quản lý.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới dừng lại ở thống kê, mô tả các loài chim, lập danh lục loài và đánh giá giá trị bảo tồn của chúng; và thường các nghiên cứu này được đặt tên đề tài là: nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu về quần xã chim hoang dã ở Việt Nam được tiến hành ở các hệ sinh thái tự nhiên; không tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu về quần xã chim hoang dã ở khu vực đô thị. Nghiên cứu về sinh thái học chim ở cấp độ quần xã (mối quan hệ giữa các loài chim trong quần xã, giữa quần xã chim với môi trường nơi cư trú) hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu. Lược sử nghiên cứu chim ở khu vực thị trấn xuân mai Nghiên cứu chim hoang dã ở thị trấn Xuân Mai được tiến hành gắn liền với hoạt động giảng dạy và học tập của giảng viên, sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp. Những năm 2010 trở về trước, có khá nhiều công trình điều tra nghiên cứu về các loài chim;tiêu biểu phải kể đến một số nghiên cứu như: chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim tại núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp” của Nguyễn Đăng Mạnh năm 2005, đã ghi nhận tại khu vực núi Luốt có 64 loài chim thuộc 30 họ và 10 bộ; ngoài ra chuyên đề còn mô tả quy luật phân bố của các loài chim theo sinh cảnh và đánh giá tình trạng quần thể thông qua mật độ của một số loài thường gặp (Nguyễn Đăng Mạnh, 2005).
Chuyên đề nghiên cứu khoa học “Tư liệu hóa thông tin đa dạng sinh học chim tại núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp” của Nguyễn Văn Đệ năm 2010, đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó cùng với kết quả điều tra thực địa đã lập danh sách các loài chim ở khu vực núi Luốt gồm 84 loài thuộc 32 họ và 10 bộ; đồng thời tiến hành xây dựng bảng tra các họ chim và các loài chim trong một số họ phổ biến (Nguyễn Văn Đệ và cộng sự, 2010). 5 Sau năm 2010, các công trình điều tra nghiên cứu liên quan đến khu hệ chim tại núi Luốt là rất ít, đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim tại khu rừng thực nghiệm núi Luốt, Xuân Mai, Hà Nội” của Lương Văn Bình năm 2014, đã ghi nhận tại khu vực có 56 loài chim thuộc 27 họ và 9 họ; ngoài ra chuyên đề còn đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ chim, mô tả tình trạng phân bố của các loài chim theo sinh cảnh (Lương Văn Bình và cộng sự, 2014). Như vậy, định kỳ đều có các điều tra nghiên cứu chim hoang dã tại khu vực thị trấn Xuân Mai; tuy nhiên, các điều tra nghiên cứu cũng mới dừng lại ở điều tra, thống kê thành phần loài, đồng thời chỉ giới hạn trong quy mô khu vực núi Luốt- khu rừng thực nghiệm của Trường Đại học Lâm nghiệp. 6 Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện tự nhiên của thị trấn Xuân Mai 2. Vị trí địa lý Thị trấn Xuân Mai thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; nằm trên điểm giao nhau giữa quốc lộ 6 và quốc lộ 21A (20054’3,23”N, 105034’47,83” E), cách trung tâm thủ đô Hà Nội 33 km về phía Tây. Tổng diện tích thị trấn là 1051,57 ha; phía Đông và phía Nam giáp xã Thủy Xuân Tiên; phía Bắc giáp xã Đông Yên, huyện Quốc Oai; phía Tây giáp xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Địa hình Địa hình khu vực Xuân Mai thuộc kiểu bán sơn địa, tức vừa có đồi núi vừa có những khoảng đất rộng bằng phẳng.
Độ cao tuyệt đối biến động từ 50- 340m, đỉnh núi cao nhất thuộc khu vực núi Luốt của Trường đại học Lâm nghiệp, cao 133 mét. Khí hậu thủy văn Khí hậu của khu vực Xuân Mai thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, trong năm chia làm bốn mùa rõ rệt. Nhiệt độ bình quân năm là 230C, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất là 290C vào tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất là 170C vào tháng 1. Vào mùa hè nhiệt độ không khí trên 250C kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9.
Vào mùa đông nhiệt độ không khí nhỏ hơn 200C kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Các tháng còn lại nhiệt độ trung bình từ 20-250C. Độ ẩm không khí tương đối cao và khá đồng đều giữa các tháng trong năm. Độ ẩm không khí bình quân năm là 84,25%, độ ẩm bình quân tháng cao 7 nhất là 86,9% vào tháng 4, độ ẩm bình quân tháng thấp nhất là 81,1% vào tháng 12 .1: Ranh giới và hệ thống nước mặt của thị trấn Xuân Mai Lượng mưa bình quân năm là 1893mm và chủ yếu tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 91% tổng lượng mưa của cả năm.
Nước mưa rơi xuống lưu vực núi Luốt- xã Hòa Sơn được lưu lại trong các ao ở khu dân cư và hồ Xuân Mai, đến mùa Xuân ( tháng 2) hồ Xuân Mai xả nước ra sông Đáy để chuẩn bị làm đất cấy lúa nước. Khu vực giáp ranh với xã Thủy Xuân Tiên có sông Bùi chảy qua và đổ nước vào sông Đáy ở điểm cầu Tiên Trượng. Thổ nhưỡng Đất feralit nâu vàng, phát triển trên đá mẹ poocfiarit là loại đất chủ yếu của khu vực thị trấn Xuân Mai. Phần lớn diện tích thuộc đất tầng trung bình, 8 đất tầng dày và đất tầng mỏng chiếm diện tích rất ít.
Những khu vực tầng đất mỏng có tỉ lệ lớn đá ong kết von; chứng tỏ sự tích lũy sắt khá phổ biến và trầm trọng trong đất. Hàm lượng mùn trong đất nhìn chung thấp. Thảm thực vật Khu vực núi Luốt thuộc Trường đại học Lâm nghiệp đã được phủ xanh bởi các mô hình trồng rừng; tầng ưu thế là các loài cây tiên phong như Thông mã vĩ, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Bạch đàn; tần dưới tán là các loài cây bản địa như: Lim xanh, Long não, Trẩu, Mò vối thuốc,… Khu vực trảng trống dưới đường điện cao thế có phân bố một số loài cây bụi thảm tươi như: Sim, Mua, Mâm xôi, Chân châu, Cỏ lá tre, Cúc dại,. Ngoài ra có ngô, lúa nước, sắn ở khu vực đồng ruộng và cây ăn quả, cây cảnh phân tán trong vườn nhà.