Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Chương này giới thiệu tổng quan về NHTM; lợi nhuận; các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM và các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTMCP, lược khảo các nghiên cứu có liên quan. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương này đưa ra các giả thiết ban đầu về tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại, đồng thời giới thiệu nguồn dữ liệu nghiên cứu của đề tài, lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp và lập mô hình hồi quy. Chương 4: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương này cho thấy một cái nhìn khái quát về thực trạng nền kinh tế và hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam, cùng với các dữ liệu thu thập được để chạy mô hình kinh tế lượng đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTMCP, đưa ra kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách nhằm nâng cao lợi nhuận của các Ngân hàng TMCP Việt Nam 8 Chương này đưa ra một số giải pháp giải quyết các vấn đề bất cập trong hoạt động kinh doanh của hệ thống các NHTMCP hiện nay từ thực trạng phân tích ở chương 4 nhằm làm tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của hệ thống các NHTMCP trong thời gian tới. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Những lý luận liên quan đến đề tài 2.1 Lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm lợi nhuận Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, thì: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Trong nghiệp vụ nhận tiền gửi, ngân hàng trả lãi tiền gửi cho người gửi tiền, còn trong nghiệp vụ cấp tín dụng, ngân hàng thu tiền lãi cho vay hoặc thu phí dịch vụ, đối với dịch vụ thanh toán qua tài khoản, ngân hàng sẽ thu phí. Do đó lợi nhuận của NHTM cũng xuất phát từ các hoạt động kinh doanh này. Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ trong năm tài chính. Tuy nhiên, người ta thường ít sử dụng giá trị tuyệt đối để đánh giá về lợi nhuận, thay vào đó các chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và các chỉ tiêu khác theo quan điểm của từng nhà phân tích.2 Ý nghĩa của việc đánh giá lợi nhuận - Đối với ngân hàng: Đánh giá lợi nhuận cũng như xác định các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM giúp những người quản lý, điều hành ngân hàng thấy được hiệu quả hoạt động, các lợi thế tài chính của chính ngân hàng mình, cũng như những điểm đã đạt được và chưa đạt được, những điểm bất cập… 10 để từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời, phù hợp, nhằm hướng vào các mục tiêu tài chính như tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách bền vững.
Như vậy, công tác đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn luôn được chú trọng và quan tâm hàng đầu nhằm nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của các NHTM trên thị trường tài chính. Việc đánh giá lợi nhuận trong một giai đoạn nhất định có thể giúp các nhà quản lý thấy được xu hướng hoạt động và dự đoán được kết quả hoạt động nói chung và mức sinh lợi nói riêng của ngân hàng trong các giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, với lợi nhuận khả quan, các chỉ số tài chính lành mạnh có thể sẽ làm gia tăng sự tin tưởng, khả năng cống hiến của người lao động vào ngân hàng và tránh tình trạng chảy máu nhân lực trong ngành ngân hàng. - Đối với nhà đầu tư: Qua việc đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, các nhà đầu tư sẽ thấy được lợi nhuận và triển vọng phát triển, đây là cơ sở cho các nhà đầu tư ra quyết định nhằm tối đa hóa giá trị của cổ đông.
Mặt khác, đánh giá lợi nhuận còn cho các nhà đầu tư thấy được mức chi trả cổ tức, xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu để họ đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư nhằm đưa ra ngưỡng chịu đựng rủi ro cũng như làm giảm thấp nhất chi phí cơ hội của việc đầu tư. -Đối với các cơ quan Nhà nước: Việc đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM giúp các Cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo việc các NHTM tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định trong hoạt động ngân hàng. Mặt khác, việc đánh giá lợi nhuận của các NHTM sẽ là nguồn thông tin giúp cho các cơ quan chức năng và NHNN xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng, có những chấn chỉnh kịp thời để tránh tình trạng ngân hàng hoạt động không hiệu quả dẫn đến thua lỗ, phá sản ảnh hưởng dây truyền gây trì trệ, khủng hoảng đến toàn bộ nền kinh tế. 11 Chính vì vậy, việc phân tích và đánh giá lợi nhuận là việc làm tất yếu đối với từng ngân hàng và là khâu quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng để tăng cường tính cạnh tranh, tạo tiền đề cho sự phát triển chung của cả hệ thống ngân hàng và tiến tới hòa nhập với hệ thống ngân hàng khu vực và quốc tế.
Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Sự tồn tại và phát triển của NHTM cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM chủ yếu dựa vào lợi nhuận của ngân hàng. Hiện nay, các nhà phân tích trong và ngoài nước đã sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM.3 Cách xác định lợi nhuận của NHTM Theo Peter S.Rose (2004), lợi nhuận của ngân hàng có thể được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Trong đó, hai chỉ tiêu quan trọng nhất và có liên hệ rất chặt chẽ với nhau đó là tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) Trong giới hạn của bài nghiên cứu, tác giả sử dụng một số chỉ tiêu tài chính sau đây: a. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Thu nhập ròng ROA = Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho nhà phân tích thấy được hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng hay là thước đo hiệu quả của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tổng tài sản bình quân.
Nói cách khác, ROA là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản có tại ngân hàng và khả năng quản lý các chi phí tiền gửi một cách hợp lý để đầu tư các tài sản nhằm mang lại lợi nhuận. ROA còn được gọi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi kinh tế - để có thể so sánh giữa các ngân hàng với nhau (trong cùng một lĩnh vực, một ngành). Một mức 12 ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nếu mức sinh lợi quá lớn cũng có thể ngân hàng phải đối đầu với những rủi ro lớn do thực hiện các hoạt động đầu tư quá mạo hiểm hoặc giảm dự trữ xuống quá mức cần thiết. Đây là một trong những chỉ tiêu tài chính được các nhà phân tích đánh giá lợi nhuận các NHTM sử dụng vì: + Phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của tài sản. + Tạo ra sự kết nối các kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư của ngân hàng bất kể ngân hàng đã dùng nguồn vốn nào để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Do đó, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có thể được xem là chỉ tiêu tài chính toàn diện để đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) Thu nhập ròng ROE = Tổng Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm). Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra. Khi mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao ngụ ý rằng ngân hàng đã tạo được những thành quả trong việc quản lý, do đó ROE cao là mục tiêu tìm kiếm của bất cứ nhà đầu tư ngân hàng nào. 13 Tuy nhiên, nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, ngân hàng đã huy động vốn nhiều để cho vay.
Từ đó cho thấy, thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều nợ hay vốn chủ sở hữu).