Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Chương 3: Thực trạng các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam. Chương 4: Kiểm định các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam.
Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM Trong chương này khung lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM sẽ được trình bày. Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan. Đồng thời một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới cũng sẽ được giới thiệu ở chương này, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho ngân hàng Việt Nam.1 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.1 Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội.
Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh sau: Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Trong “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” của Nguyễn Khắc Minh (2004, trang 255) thì “hiệu quả - efficiency” trong kinh tế lượng được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào và các yếu tố khan hiếm với đầu ra là hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. “Hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý.
nó phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” (Nguyễn Việt Hùng, 2008, trang 17). Hiệu quả được hiểu là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Daft, 2010, trang 8). 5 Như vậy, có thể hiểu rằng hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định. Rose (2001) giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale cho rằng về bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.
Tuy nhiên khả năng sinh lời là mục tiêu các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao có thể giúp các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Lợi nhuận là điều cần thiết cho một ngân hàng để duy trì hoạt động liên tục cũng như cần thiết cho các nhà đầu tư ngân hàng có được lợi nhuận hợp lý. Khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững được sử dụng trong nghiên cứu này như một định nghĩa để mô tả hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Do đó, tác giả sẽ sử dụng khả năng sinh lời để đo lường hiệu quả kinh doanh của các NHTM.
Mặc dù đây không phải là biện pháp hoàn hảo để đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nhưng nó thường được sử dụng với ý nghĩa thay thế trong các lý thuyết ngân hàng vì khả năng sinh lời có thể dễ dàng tính toán thông qua việc sử dụng các thông tin kế toán và không cần thực hiện các giả định về giá trị thị trường của các khoản nợ của ngân hàng. Hiệu quả kinh doanh có thể xem xét trên góc độ mối quan hệ tuyệt đối và góc độ mối quan hệ tương đối. Theo góc độ tương quan tuyệt đối thì hiệu quả kinh doanh được đo bằng kết quả kinh tế đạt được trừ đi chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. Theo góc độ này thì hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được tính như sau: Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Đặc điểm của chỉ tiêu này giúp phản ánh quy mô, khối lượng của ngân hàng trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này có thể không phù hợp khi so sánh hiệu quả kinh doanh giữa những ngân hàng không cùng quy mô. Chẳng hạn, một ngân hàng có quy mô lớn thì hiệu số tuyệt đối giữa tổng thu nhập và tổng chi phí rất lớn, nhưng như vậy vẫn chưa đánh giá được liệu rằng ngân hàng này hoạt động hiệu quả hơn các ngân hàng khác có quy mô nhỏ hơn với hiệu số tuyệt đối giữa tổng thu nhập và tổng chi phí nhỏ hơn. Chỉ tiêu này không phản ánh khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các yếu tố đầu vào. 6 Cách đánh giá hiệu quả tương đối lại xem xét tỷ lệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh doanh ngân hàng khi tính theo góc độ này tương đương với chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời như tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sỡ hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM). Chỉ tiêu này thuận tiện hơn trong việc so sánh theo không gian và thời gian cũng như cho phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kì khác nhau. Tóm lại, quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTMCP Việt Nam là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế tính theo chỉ tiêu khả năng sinh lời.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM Xét về bản chất, NHTM là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận được.
Do đó, lợi nhuận và các tiêu chí liên quan đến lợi nhuận là các tiêu chí để các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM ngày nay. Bên cạnh đó, các tiêu chí như chất lượng tài sản, các yếu tố đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, thị phần. cũng được xem xét khi phân tích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.1 Lợi nhuận ròng Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng, nó được xem là mục tiêu cuối cùng mà ngân hàng luôn hướng đến. Lợi nhuận đạt được đảm bảo cho ngân hàng có thể giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ về lợi ích kinh tế cho các chủ thể có liên quan.
Mức lợi nhuận đạt được càng cao, càng giúp cho ngân hàng gia tăng tỷ lệ trích lập các quỹ bổ sung vốn, dự phòng tài chính, phát triển kỉ thuật nghiệp vụ ngân hàng. tạo ra sự ổn định và phát triển ngân hàng trong tương lai. 7 Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng thu nhập phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ. Lợi nhuận được xác định qua các chỉ tiêu dưới đây: Lợi nhuận thuần từ lãi = Tổng thu nhập từ lãi – Tổng chi phí từ lãi Lợi nhuận thuần ngoài lãi = Tổng thu nhập ngoài lãi - Tổng chi phí ngoài lãi Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giữa kì này so với kì trước Lợi nhuận kì này − Lợi nhuận kì trước 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑘ì 𝑡𝑟ướ𝑐 Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giữa kì này so với kế hoạch Lợi nhuận kì này − Lợi nhuận kế hoạch 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑘ế ℎ𝑜ạ𝑐ℎ Thu nhập của ngân hàng Thu nhập của ngân hàng là toàn bộ nguồn thu bằng tiền mà ngân hàng thu được từ hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định.
Nguồn thu chính của ngân hàng là thu từ lãi tài sản sinh lời, chủ yếu là từ các khoản cho vay, chứng khoán, tiền gửi hưởng lãi từ các tổ chức tín dụng ngân hàng khác và các nguồn thu khác như: thu nhập từ các chi nhánh ngân hàng hay thu nhập từ cho thuê các tài sản mà ngân hàng đang sở hữu. Thu từ lãi: Tiền lãi được tạo ra từ các khoản cho vay, khoản thu này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của ngân hàng. Tiếp theo các khoản thu từ cho vay là những nguồn thu quan trọng khác bao gồm: thu nhập từ đầu tư chứng khoán, lãi từ các hợp đồng cấp tín dụng cho chính phủ, các hợp đồng mua bán lại và lãi thu được từ tiền gửi có kì hạn tại các NHTM khác. Thu ngoài lãi: Các khoản thu khác ngoài những khoản thu từ cho vay và chứng khoán được gọi là các khoản thu ngoài lãi, bao gồm: thu phí từ hoạt động cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi, các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ khác của ngân hàng.
Chi phí hoạt động kinh doanh ngân hàng 8 Những khoản chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra thu nhập của ngân hàng bao gồm lãi trả cho người gửi tiền, lãi trả cho những khoản vay, chi phí cho vốn tự có, tiền lương trả cho nhân viên của ngân hàng, chi phí liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng, thuế và các khoản chi phí khác. Chi phí trả lãi: Khoản chi phí quan trọng nhất là chi phí trả lãi tiền gửi, khoản mục này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí ngân hàng. Một khoản mục chi phí trả lãi tương đối quan trọng và đang có chiều hướng tăng lên là lãi trả cho những khoản vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, chủ yếu là những khoản vay của NHNN và các ngân hàng khác.