Chương 1. Giới thiệu đề tài Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và khuyến nghị 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết Liên quan đến lý thuyết giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp, tồn tại hai quan điểm được sử dụng để làm rõ hành vi tránh thuế.
Quan điểm đầu tiên cho rằng hành vi tránh thuế chỉ đơn thuần là hành vi sử dụng các chiến lược để tiết kiệm phần thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước mà không liên quan đến vấn đề đại diện của doanh nghiệp (Desai và Dharmapala, 2009). Do đó các nhà quản trị thực hiện các hành vi tránh thuế nhằm mục đích giảm thiểu gánh nặng thuế (tax burdens) và các nhà đầu tư tin rằng hành vi tránh thuế là hoạt động nâng cao giá trị của doanh nghiệp. Vì lý do này các nhà quản trị vừa có động lực để thực hiện các hành vi tránh thuế vừa được thưởng đối với các hoạt động tránh thuế này (Kim và các cộng sự, 2011). Quan điểm này chủ yếu xem xét các chi phí có liên quan trực tiếp đến thuế thu nhập doanh nghiệp chẳng hạn như chi phí lãi vay, chi phí khấu hao… Nghiên cứu có liên quan đến quan điểm này là nghiên cứu của Graham và Tucker (2006) khi xem xét 44 trường hợp doanh nghiệp tránh thuế.
Qua đó các tác giả cho rằng quy mô và lợi nhuận có tương quan cùng chiều với hành vi tránh thuế và lập luận rằng các doanh nghiệp này nhận được nhiều ưu đãi từ các khoản khấu trừ liên quan đến cấu trúc vốn (Desai và Dharmapala, 2009b). Hơn thế nữa, Philips và John (2003) cho rằng cơ chế thưởng cho các nhà quản lý có thể thúc đẩy hành vi tránh thuế ở các doanh nghiệp này. Quan điểm khác giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp có liên quan đến sự phân tách quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Các nghiên cứu trước đây 6 phân tích mô hình người đại diện (agency) cho thấy khả năng mà các nhà quản trị (người đại diện) thực hiện các hoạt động tránh thuế được giải thích bởi hai động cơ chính là (1) lý thuyết hợp tác và (2) lý thuyết đại diện.
Các nghiên cứu trước đây về tránh thuế thì đã nhấn mạnh về hành vi cá nhân hơn là hành vi của doanh nghiệp. Chẳng hạn như Slemord (2004) đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc tuân thủ thuế của các cá nhân và các doanh nghiệp, và tác giả cho rằng sự khác biệt này có thể được phân tích trong mô hình của lý thuyết đại diện. Trong đó tiền đề cơ bản của mô hình này cho rằng quyết định tránh thuế của các doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện bởi các nhà quản lý của công ty. Theo động cơ được đề cập trong lý thuyết hợp tác, các nhà quản lý của công ty sẽ thực hiện theo như mong muốn của các cổ đông của các công ty để gia tăng giá trị của công ty.
Nếu các hoạt động tránh thuế được thực thi dưới động cơ hợp tác giữa nhà quản lý và các cổ đông, thì các hoạt động này sẽ có thể tạo ra hoặc gia tăng giá trị tài sản của các cổ đông. Lý thuyết đại diện cho rằng lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý không nhất thiết phải giống nhau và dựa trên giả định rằng các nhà quản trị sẽ thực hiện các hành vi tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ và thậm chí các hành vi này có thể làm sụt giảm giá trị tài sản của các cổ đông, ngược lại với các lợi ích của các cổ đông mong muốn. Các nhà quản trị có thể tránh thuế bởi vì họ có thể gia tăng uy tín hoặc triển vọng nghề nghiệp của họ bằng cách làm cho giá trị của công ty gia tăng đáng kể nhờ vào sự suy giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Đồng thời theo Alchian và Demsetz (1972), Jensen và Meckling (1976) và Eisenhardt (1989), thiếu sự hiện diện của cơ chế giám sát hoặc các biện pháp thích hợp, các nhà quản lý có thể thực hiện các hành vi có nguy cơ đối với các cổ đông.
Lập luận này cho rằng các cổ đông sẽ mong muốn tối đa hóa lợi nhuận nhưng các nhà quản lý của họ thì không có chung lợi ích hoặc không có động cơ để thực hiện điều này. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế 2. Quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp được các nghiên cứu trước đây cho rằng là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp, do đó sẽ có tác động đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp. Theo đó, mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế đã được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành xem xét.
Nhưng kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai biến số này lại chưa nhất quán, trong đó mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế đã tìm thấy bởi Janssen và Buinjink (1998), Holland (1998), Porcano (1986), Siegfried (1972). Một số nghiên cứu khác bao gồm Rego (2003), Omer và các cộng sự (1993), Zimmerman (1983) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế. Ngoài ra, các nghiên cứu khác (Millis và các cộng sự, 1998; Gupta và Newberry, 1997; Jacob, 1996) không tìm thấy tác động đáng kể của quy mô doanh nghiệp đến hành vi tránh thuế. Zimmerman (1983) đã tiết lộ rằng quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế có mối tương quan ngược chiều với nhau và tranh luận rằng các công ty có quy mô lớn thường sẽ chi trả nhiều thuế thu nhập doanh nghiệp hơn bởi vì họ phải chịu đựng sự giám sát chặt chẽ bởi chính phủ và thị trường tài chính.
Theo đó tác giả đã lập luận kết quả nghiên cứu này có thể được giải thích bởi lý thuyết chi phí chính trị (political cost theory). Omer và các cộng sự (1993) cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ phát hiện của Zimmerman (1983) và giả thuyết lý thuyết chi phí chính trị. Rego (2003) nghiên cứu hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Mỹ từ năm 1990 – 1997. Qua đó, tác giả tiết lộ rằng sau khi kiểm soát các yếu tố như thu nhập trước thuế, hoạt động nước ngoài, thì tìm thấy rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ càng có tỷ lệ thuế suất có hiệu lực càng lớn.
Kết quả của tác giả kết luận rằng các công ty có quy mô càng lớn sẽ càng phải đối mặt với chi phí chính trị và sẽ làm gia tăng tỷ lệ thuế suất có hiệu lực. Theo đó lý thuyết này cho rằng tỷ lệ thuế suất hiệu lực của các doanh nghiệp đại diện cho chi phí chính trị bởi vì thuế mà các 8 doanh nghiệp phải nộp được xem như là một phần tài sản được chuyển giao bởi công ty đến một tổ chức khác. Đồng thời, tỷ lệ thuế suất hiệu lực cũng đại diện cho sự thành công của doanh nghiệp, do đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì thường thành công hơn so với các công ty có quy mô nhỏ và cho nên sẽ phải đối mặt với sự kiểm soát chính trị nhiều hơn. Khi đó các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan thuế bởi vì các cơ quan thuế không muốn giảm phần thu thuế doanh nghiệp.
Kết quả là các doanh nghiệp có quy mô lớn được kỳ vọng có gánh nặng thuế tương đối cao hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ vì phần thuế phải nộp phản ánh chi phí chính trị mà các công ty phải gánh chịu. Ngược lại, Siegfried (1972) tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp. Tác giả lập luận rằng các công ty có quy mô lớn sẽ có xu hướng tránh thuế nhiều hơn bởi vì các doanh nghiệp này có đủ nguồn lực để gia tăng khả năng phát triển chuyên môn trong việc lập kế hoạch thuế và quản trị chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tốt hơn. Salamon và Siegfried (1977) lập luận rằng các công ty có quy mô lớn có quyền lực chính trị và kinh tế cao hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và do đó có thể tránh thuế tốt hơn.
Porcano (1986) ủng hộ quan điểm này bằng việc tìm thấy bằng chứng thực nghiệm mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp. Ở Châu Âu, Janssen và Buinjink (1998) đã cách sử dụng số liệu của các doanh nghiệp ở Hà Lan và tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp. Holland (1998) là người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp phi tài chính ở Anh trong 26 năm và tác giả cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn sẽ có hành vi tránh thuế càng nhiều. Tuy nhiên, Jacob (1996), Gupta và Newberry (1997), Millis và các cộng sự (1998) không tìm thấy bất kỳ mối quan hệ đáng kể nào giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp.
Đòn bẩy Để trang trải cho các dự án đầu tư của mình, cũng như phục vụ cho chiến lược tăng trưởng, các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu về vốn và bằng cách vay nợ hoặc phát hành vốn cổ phần mới, các doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu về vốn. Bên cạnh đó, khi đưa ra quyết định tài trợ, các doanh nghiệp thường xem xét chi phí và lợi ích có liên quan đến các phương thức tài trợ. Theo đó, để giải thích cho quyết định tài trợ liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau, bao gồm lý thuyết đánh đổi (Brennan và Schwartz, 1978), lý thuyết trật tự phân hạng (Myers, 1984; Myers và Majluf, 1984), lý thuyết chi phí đại diện (Jensen, 1986; Jensen và Meckling, 1976) và lý thuyết tấm chắn thuế (Lasfer, 1995; Chatterjee và Scott, 1989; Ross, 1985; DeAngelo và Masulis, 1980). Một số nghiên cứu cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí đại diện được xem là các yếu tố quyết định cấu trúc vốn của các doanh nghiệp (Barclay và Smith, 1995; Harris và Raviv, 1990; Stulz, 1990).
Hơn thế nữa, Graham (2000) cho rằng lợi ích về thuế là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp.