mở đầu cho sự ứng dụng lý thuyết này vào nghiên cứu điện ảnh cũng như những nghệ thuật biểu hiện khác; Sự biểu hiện của cái tôi trong văn học Trung Quốc (Expression of self in Chinese literature) của Richard C. Hegel, (1985) cung cấp một khảo sát khá sâu về sự biểu hiện của cái tôi tác giả trong văn học Trung Quốc nói chung và một sự tổng kết rất có giá trị về các qui ước miêu tả người phụ nữ trong thơ tình Nam triều. Về hiện tượng mượn giọng thì công trình đầu tiên phải kể đến là Người phụ nữ bị bỏ rơi và thi ca (Abandoned women and poetry) của Lawrence Lipking (1988); tiếp theo là Giọng mượn: Lý thuyết phê bình nữ quyền và các tác phẩm văn học Anh thời kì Phục hưng (Ventriloquized Voice: Feminist Theory and English Renaissance Texts) của Elizabeth D. Công trình của Paule F.
Rouzer (1993), Viết về giấc mơ của người khác: Thơ Ôn Đình Quân (Writing another‟s dream: The poetry of Wen Tingyun) cũng gợi mở cho chúng tôi khá nhiều vấn đề liên quan đến hiện tượng mượn giọng khác giới. Trên cơ sở của lý thuyết về quan niệm nữ tính trong văn học Trung Quốc, luận văn sẽ khảo sát sự chi phối của các quan niệm giới thời trung đại đến việc miêu tả nhân vật nữ trong hai ngâm khúc, cụ thể là chúng tôi sẽ phân tích những đặc trưng nữ tính chính thống và phi chính thống theo quan niệm của nhà nho trong cách hai tác giả miêu tả nhân vật người chinh phụ và người cung nữ trong hai khúc ngâm. Tạ Thị Thanh Huyền - 14 - Cao học K52 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn từ quan điểm giới Lý thuyết về “cái nhìn đàn ông” (male gaze) cũng được vận dụng để lý giải cho sự xuất hiện của yếu tố nhục cảm và tính chất bị động, phụ thuộc trong hình ảnh được miêu tả của người chinh phụ và người cung nữ. Đồng thời, vận dụng lý thuyết về hiện tượng “mượn giọng vượt rào giới tính” (cross-gender ventriloquism), luận văn sẽ phân tích và lý giải những nguyên nhân xuất phát từ quan niệm về giới thời trung đại khiến các tác giả phải mượn giọng người phụ nữ để bày tỏ những quan điểm chính trị và nhân sinh phi chính thống của mình.
Cấu trúc luận văn Luận văn được chia làm ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quan niệm nam tính - nữ tính, cái nhìn đàn ông và hiện tƣợng mƣợn giọng Chúng tôi dành ra một chương cơ sở lý thuyết nhằm trình bày một định hướng lý thuyết rõ ràng mà chúng tôi sẽ dựa vào để phân tích những biểu hiện của quan niệm về giới trong cách nhìn nhận và miêu tả hai nhân vật chinh phụ và cung nữ trong hai khúc ngâm. Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm chung về nam tính - nữ tính và những quan niệm cơ bản nhất của Nho giáo về nữ tính; những nội dung cốt lõi của cách tiếp cận “cái nhìn đàn ông” và hiện tượng “mượn giọng” trong điện ảnh và văn học để làm cơ sở lí thuyết cho các chương sau. Chƣơng 2: Sự miêu tả ngƣời phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm Trong chương này, dựa trên khảo sát về quan niệm về nữ tính và nữ tính thể hiện trong văn học nhà nho nói chung qua các thời kì lịch sử, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích những yếu tố chính thống và phi chính thống trong cách hai tác giả miêu tả nhân vật người chinh phụ và người cung nữ trong hai khúc ngâm để thấy được sự ảnh hưởng của những quan niệm đa dạng về nữ tính của nhà nho; đồng thời, dựa trên những sự khảo sát về những đặc trưng của người phụ nữ trong thơ cung oán và khuê oán nói riêng của một số nhà nghiên cứu, tiêu biểu là Richard C. Hegel với công trình Sự biểu hiện của cái tôi trong văn học Trung Quốc (Expression Tạ Thị Thanh Huyền - 15 - Cao học K52 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn từ quan điểm giới of self in Chinese literature), chúng tôi sẽ phân tích những sự tiếp thu của hai tác giả ngâm khúc trong việc miêu tả nhân vật nữ từ thơ ca cung oán, khuê oán Trung Quốc.
Chƣơng 3: Vấn đề cái nhìn đàn ông của tác giả và vai trò của mặt nạ nữ giới Trong chương này chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề sự chi phối của cái nhìn đàn ông của các tác giả đến việc miêu tả hai nhân vật nữ trong khúc ngâm; chỉ ra sự tiến bộ trong tư tưởng và nghệ thuật của hai tác giả so với các tác giả nhà nho thời kì trước trong việc thay đổi điểm nhìn đối với nhân vật nữ: từ điểm nhìn bên ngoài của người đàn ông sang điểm nhìn bên trong của nhân vật (đồng nhất điểm nhìn tác giả với điểm nhìn nhân vật); lý giải nguyên nhân thúc đẩy hai nhà thơ mượn giọng nhân vật nữ và phân tích vai trò của mặt nạ nữ giới trong việc giúp tác giả bày tỏ những quan niệm chính trị và nhân sinh mới mẻ của mình – hay chính là một cách “chống đối cấm kị”. Tạ Thị Thanh Huyền - 16 - Cao học K52 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn từ quan điểm giới CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ QUAN NIỆM NAM TÍNH – NỮ TÍNH, CÁI NHÌN ĐÀN ÔNG VÀ HIỆN TƢỢNG MƢỢN GIỌNG ---------------- Như trên đã nói, chúng tôi dành chương đầu tiên này để giới thuyết một số vấn đề lí thuyết về quan niệm nữ tính (trong quan hệ không thể tách rời với quan niệm về nam tính), cái nhìn đàn ông và hiện tượng mượn giọng để làm cơ sở cho những phân tích và kiến giải ở những chương sau. Quan niệm về nam tính - nữ tính nói chung Về quan niệm nam tính và nữ tính, trong chương này chúng tôi sẽ chỉ đưa ra những nét đại thể nhất. Ở chương hai chúng tôi sẽ riêng một phần để khảo sát những biểu hiện cụ thể và tiêu biểu của chúng trong văn học nhà nho nói chung (trong văn học Trung Quốc) để làm cơ sở cho việc phân tích sự chi phối của những quan niệm đó tới cách miêu tả người phụ nữ trong hai khúc ngâm.
Trước khi đi sâu phân tích quan niệm về nữ tính trong văn chương nhà nho, chúng tôi cần phải giải thích những khái niệm then chốt “nữ tính” (và đề cập sơ lược khái niệm“nam tính” với tư cách là một vấn đề không thể thiếu để hiểu được khái niệm nữ tính) để làm cơ sở cho việc tìm hiểu những sự khác biệt trong quan niệm về nam tính và nữ tính ở các nền văn học khác nhau. Nữ tính là những phẩm chất được xem là đặc trưng cho phụ nữ trong một nền văn hóa của một giai đoạn lịch sử nào đó. Theo nghiên cứu của nhiều học giả về giới trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, nữ tính thường được gắn với sự tái sản sinh ra sự sống (sinh nở) và những phẩm chất thuộc về sự chăm sóc, nuôi dưỡng như thiên chức làm mẹ, sinh đẻ, sự nhã nhặn, dịu dàng, trực giác nhạy bén, tính sáng tạo, chu kỳ sinh học của cuộc sống… Cổ mẫu của người phụ nữ trong thần thoại và thế giới tâm linh thường được gắn liền với một lực lượng sáng tạo tự nhiên (đất mẹ Gaia, bà Eve, …) Trong triết học Trung Quốc, khái niệm về âm biểu thị cho nửa thuộc giống cái trong cặp nhị phân âm/dương. Trong truyền thống văn hóa Hinđu, Shakti là năng Tạ Thị Thanh Huyền - 17 - Cao học K52 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm nhìn từ quan điểm giới lượng sáng tạo thần thánh mang tính nữ, là năng lượng thiêng vận động trong toàn bộ vũ trụ; đó là đối tác giống cái mà nếu thiếu thì giống đực còn lại, biểu thị cho ý thức và khả năng suy xét, sẽ bất lực và vô giá trị.
Theo đạo Hinđu, lực lượng sáng tạo trong vũ trụ Yoni là giống cái với năng lực sáng tạo ra sự sống. Trong tâm lý học phương Tây, những cổ mẫu chính được giới thiệu lần đầu tiên bởi Carl Jung và thường được vận dụng trong văn chương là những mô hình hành vi tuân theo chu kỳ sinh học của sự sống ở người phụ nữ và rơi vào một trong các vai trò sau: Con gái: đồng nghĩa với trinh nữ; Mẹ: gắn với vai trò tái sản xuất sự sống (sinh nở) và nuôi dưỡng con cái - một chức năng xã hội, văn hóa và tôn giáo; Mụ già: là người có vẻ cau có, gắt gỏng, độc ác, hoặc nham hiểm, thường có phép thuật có thể hoặc giúp đỡ hoặc cản trở; bà ta bị gạt ra ngoài lề xã hội vì đã rút khỏi chu trình sinh sản; sự gần kề với cái chết đặt bà ta vào mối liên hệ với trí tuệ huyền bí; Nữ hoàng: chia làm hai kiểu mẫu. Nữ hoàng trị vì: là một vị vua đàn bà tự mình cai trị đất nước; hoàng hậu: là vợ của một ông vua trị vì, được chia sẻ tước hiệu nhưng không được chia sẻ quyền lực. Ngoài ra còn phải kể đến kiểu mẫu “ngƣời phụ nữ quyến rũ chết ngƣời” (fatale female): đó là người đàn bà rất đẹp và quyến rũ khiến đàn ông bị hấp dẫn về giới tính nhưng lại đem đến cho họ rắc rối hoặc bất hạnh.
Trong văn học Trung Quốc cổ người ta thường đề cao cảnh giác với mẫu đàn bà quyến rũ và chi phối đàn ông (nhất là đấng “thiên tử”) thậm chí dẫn đến sự sụp đổ của một triều đại (“hồ ly” – như Đát Kỷ, Bao Tự, Triệu Phi Yến), hoặc kiểu phụ nữ có khí chất và tham vọng của đàn ông, dùng sắc đẹp và thủ đoạn để chiếm đoạt vai trò thống trị của đàn ông (“gà mái gáy sáng” – như Lữ Hậu, Võ Tắc Thiên, Từ Hy Thái hậu). Nữ tính không xuất hiện và tồn tại độc lập mà dựa trên tương quan với định nghĩa và quan niệm về nam tính (masculinity). Ở góc độ xã hội học, nam tính là “những tiêu chuẩn hoặc mẫu hình mà nam giới trong một nền văn hóa được kỳ vọng sẽ noi theo nếu họ muốn tương tác một cách thích hợp và được chấp nhận bởi những người khác (nam và nữ)” [38, tr. Tạ Thị Thanh Huyền - 18 - Cao học K52 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.