Chương I : TỔNG QUAN VỀ MÓNG CỌC VÀ CÁC TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ MÓNG CỌC TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CẦU Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm chung về nền móng 1. Khái niệm chung Như chúng ta đã biết hầu hết các công trình xây dựng, từ căn nhà thô sơ đến công trình hiện đại đều phải tựa lên nền. Vì nền có cường độ nhỏ hơn nhiều so với vật liệu công trình nên phần tiếp giáp giữa công trình và nền thường được mở rộng thêm và gọi là móng.
Nền là chiều dày các lớp đất đá trực tiếp chịu tải trọng của công trình do móng truyền xuống. Nền có thể bằng đất hoặc đá. Nền đá là nền gồm đá liền khối hoặc đá rạn nứt. Đặc điểm của nền đá là có độ bền chống nén rất lớn và biến dạng bé.
Nền đất là nền bằng các loại đất hòn lớn, cát, đất loại sét. Đặc điểm của nền đất là tính biến dạng cao và tính không đồng nhất lớn. Nền còn được phân thành: Nền thiên nhiên (là nền đất hay đá ở trạng thái tự nhiên) và nền nhân tạo (là nền được gia cố bằng các biện pháp nhân tạo). Móng là phần dưới đất của công trình làm nhiệm vụ truyền tải trọng của công trình xuống nền.
Móng được chia thành: Móng nông là các loại móng có độ chôn sâu kể từ mặt đất đến đáy móng nhỏ. Móng sâu là loại móng mà độ sâu chôn móng khá lớn. Gồm có các loại: - Móng giếng chìm: Móng được cấu tạo như một cái giếng đúc sẵn trên mặt đất, dùng máy mốc hoặc nhân lực đào đất bên trong giếng để nó tụt dần vào trong nền đất đến độ sâu thiết kế. - Móng giếng chìm hơi ép: Có cấu tạo và nguyên lý cơ bản giống móng giếng chìm thường, nhưng do móng quá sâu hoặc địa chất xung quanh không cho phép hút nước để đào và xây, người ta phải bịt mặt trên giếng tạo thành một buồng kín, sau đó dùng hơi ép bơm vào buồng này để đẩy nước ra và tiến hành đào đất, hạ nó xuống tầng đặt móng.
- Móng cọc: Là loại móng dùng cọc làm bộ phận truyền tải bên trên xuống cho các tầng đất sâu chịu. Để công trình tồn tại và sử dụng được một cách bình thường thì không những các kết cấu bên trên phải đủ độ bền, độ ổn định mà bản thân nền và móng cũng phải ổn định, có độ bền cần thiết và biến dạng nằm trong phạm vi giới hạn cho phép. Trong thực tiễn, phần lớn các công trình bị sự cố là do sai sót trong công tác nền và móng gây ra. Từ đó ta thấy rằng việc nghiên cứu nền móng công trình một cách toàn diện, nhất là mặt cơ học của nó để đưa ra một phương pháp tính toán chuẩn xác nhất có một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tư vấn thiết kế.
Đinh Văn Vinh Trang 8 Luận văn thạc sỹ khoa học kỹ thuật Ngành Xây dựng Cầu hầm 1. Khái niệm chung về móng cọc Móng cọc là một loại móng sâu, thường được dùng khi chịu tải trọng lớn, các lớp đất trên mặt là đất yếu, các tầng đất cứng và đá gốc lại ở tương đối sâu dưới lòng đất. Trong móng cọc, cọc là bộ phận chính có tác dụng truyền tải trọng của công trình bên trên xuống tầng đất dưới chân cọc, bệ cọc là bộ phận liên kết các đầu cọc lại thành một khối để cùng chịu tải trọng của công trình. Bệ cọc tùy điều kiện thi công, thiết kế và đặc điểm của công trình mà có cấu tạo khác nhau.
Theo vị trí của bệ cọc so với mặt đất có thể chia thành hai loại: - Móng cọc bệ thấp: Bệ cọc được chôn sâu trong đất với một độ sâu tùy thuộc vào tính chất chịu lực của đất bao quanh. Nó có ưu điểm là làm cho cọc bớt chịu tải trọng ngang, ổn định và có biến dạng nhỏ hơn so với cọc bệ cao. - Móng cọc bệ cao: Bệ cọc được đặt cao hơn so với mặt đất. Nó có ưu điểm là tiết kiệm được vật liệu và thi công bệ cọc đơn giản hơn, nhưng khi đó bệ cọc sẽ có chuyển vị lớn và cọc chịu lực nhiều hơn.
Cọc được phân loại theo các tiêu chí sau: - Phân loại theo vật liệu chế tạo cọc: Cọc gỗ, cọc thép, cọc bê tông cốt thép, cọc bê tông cốt thép dự ứng lực. - Phân loại theo hình dáng cọc: Cọc vuông, cọc tháp, cọc trụ tròn, cọc mở rộng chân, cọc ống. - Phân loại theo đường kính cọc: Cọc đường kính nhỏ D 60cm, cọc đường kính lớn 60cm <D 200cm, giếng vỏ mỏng 200cm<D 500cm. - Phân loại theo phương pháp hạ cọc: Cọc đóng, cọc ép, cọc khoan.
- Phân loại theo thành phần chịu tải chính của cọc: Cọc chống, cọc ma sát. Móng cọc cho phép thi công nhanh và không phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Đồng thời móng cọc còn rất kinh tế về mặt tiết kiệm khối lượng vật liệu sử dụng trong móng, thường so với các loại móng khác giảm được (20-:-30)% bê tông. Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến hai loại cọc phổ biến nhất đó là cọc đóng và cọc khoan.
Giới thiệu về Quy trình thiết kế cầu cống theo TTGH - 22TCN 18-79 1. Giới thiệu chung Các kết cấu chịu lực và nền móng của cầu cống phải được tính toán theo phương pháp những trạng thái giới hạn. Trạng thái giới hạn là trạng thái mà ở đó kết cấu hoặc nền móng không còn thoả mãn được các yêu cầu về khai thác nữa do ảnh hưởng của các tác động tác động lực. Khi tính toán theo những trạng thái giới hạn, trị số nội lực (ứng suất) và trị số biến dạng do tác động lực tính toán gây ra không được vượt quá trị số giới hạn xác định theo quy trình này.
Cầu cống được thiết kế trong suốt thời gian sử dụng phải đảm bảo an toàn, Đinh Văn Vinh Trang 9 Luận văn thạc sỹ khoa học kỹ thuật Ngành Xây dựng Cầu hầm không gián đoạn và thuận lợi cho giao thông vận tải cũng như phải đảm bảo cho việc bảo dưỡng được đơn giản và đỡ tốn công nhất trong quá trình khai thác. Khi thiết kế cầu cống cần phải dự kiến được giá thành xây dựng ít nhất, thời gian thi công ngắn nhất với chi phí tiết kiệm về vật liệu và lao động. Nền và móng 1. Phân loại và các đặc trưng của đất Đất loại sét được phân loại theo chỉ số dẻo Wn, trạng thái của đất được phân loại theo chỉ số độ sệt B.
Đất loại cát và đất hòn to tuỳ theo thành phân hạt mà chia thành các dạng khác nhau, đất loại này còn được đặc trưng bằng độ chặt của kết cấu tuỳ thuộc vào trị số hệ số rỗng. Giá trị của các đặc trưng cơ lý của đất (góc ma sát trong , dung trọng , lực dính kết C, môđun biến dạng E, v.v…) được xác định trên cơ sở những số liệu khảo sát địa chất công trình bằng cách nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và ở hiện trường, đồng thời có xét đến trạng thái thiên nhiên của đất và khả năng biến đổi sau này của đất. Khi tính toán thiết kế, cường độ tính toán của đất nền được xác định theo các đặc trưng cơ lý của đất. Tính toán nền và móng Tính toán nền đất và móng cầu cống tiến hành như sau: - Theo trạng thái giới hạn thứ nhất: Tính cường độ kết cấu móng (về vật liệu); Tính cường độ (ổn định) của nền đất đặt móng, tính cọc theo đất; Tính ổn định vị trí của móng (chống lật và trượt).
Tính toán theo trạng thái giới hạn thứ nhất về cường độ phải dùng hệ thống các hệ số tính toán như: Hệ số tải trọng n cho tải trọng tiêu chuẩn (hay nội lực), hệ số đồng nhất k cho cường độ tiêu chuẩn, hệ số điều kiện làm việc m, hệ số động lực đối với hoạt tải thẳng đứng. Riêng tính ổn định vị trí sẽ không dùng hệ số động lực. - Theo trạng thái giới hạn thứ hai (biến dạng) của nền và móng có xét đến độ lún của nền, chuyển vị ngang đỉnh trụ kể cả kiểm toán vị trí điểm đặt hợp lực các lực chủ động. Khi tính toán theo trạng thái giới hạn thứ 2 thì không xét tới hệ số tải trọng và hệ số động lực.
Nội lực và mô men gây ra do tải trọng và tác động trong tổ hợp phụ và tổ hợp đặc biệt, cần xác định riêng theo hướng dọc và riêng theo hướng ngang cầu khi xác định các áp lực vào đất, không cộng chúng lại với nhau. Nhưng khi xác định áp lực vào cọc và cọc ống thì cho phép cộng lại. Vị trí, hình dạng và kích thước móng Định chiều sâu đặt móng mố trụ cầu và cống thoát nước phải căn cứ vào cơ sở tính toán nền đất có xét đến: - Điều kiện địa chất thuỷ văn ở nơi đặt công trình. - Ảnh hưởng lẫn nhau giữa móng các công trình lân cận với móng công trình Đinh Văn Vinh Trang 10 Luận văn thạc sỹ khoa học kỹ thuật Ngành Xây dựng Cầu hầm định xây dựng.
- Điều kiện xói mòn của đất nền. Khi không có xói mòn, móng nặng mố trụ đặt trên các loại đất (trừ đá) cần phải chôn sâu ít nhất 1m kể từ mặt đất thiên nhiên hoặc đáy dòng chảy. Móng trên đá cần phải đặt sâu đến cao độ mà cường độ tính toán của nền theo kết quả thí nghiệm phải lớn hơn trị số áp lực của móng. Cao độ đó cần thêm một khoảng dự phòng ít nhất là 0,25m đối với móng nặng và móng gồm các cột không chôn sâu.
Trị số ngàm trong đá của cột được xác định theo tính toán và quy định ít nhất là 0,5m nếu đá không nứt nẻ; nếu đá nứt nẻ thì ít nhất là 1,5m. Chiều sâu hạ cọc trong đất không được nhỏ hơn 4m. Móng mố trụ cầu ở những sông có khả năng xói đất cần phải đặt sâu. Đầu cọc phải đặt dưới mực nước thấp nhất một trị số ít nhất là 50cm.
Đầu trên của cọc và cọc ống phải ngàm vào trong bệ (trên lớp bê tông đổ dưới nước) hoặc vào trong xà mũ (dầm ngang) bê tông cốt thép một trị số theo tính toán (khi có nội lực kéo), đồng thời phải ngập sâu vào trong bệ đỡ một đoạn không nhỏ hơn hai lần chiều dày thân cọc, khi chiều dày thân cọc trên 60cm thì không được nhỏ hơn 1,2m. Cọc và cọc ống bố trí thành hàng hoặc thành hình hoa mai.