CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG CÁC CHÚ GIẢI VỀ TỪ NGỮ, ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ, NGỮ PHÁP, NGHĨA TRONG NGỮ CẢNH Trong lịch sử chú giải Truyện Kiều thì cuốn Kim Vân Kiều Truyện của Trương Vĩnh Ký bằng Quốc ngữ năm 1875 là cuốn chú giải sớm nhất. Nhưng trong cuốn này các chú giải còn rất đơn giản và thiếu nhiều, có lẽ là vì thời bấy giờ kiến thức Hán học của người đọc còn tốt nên không cần phải chú nhiều. Bước sang thế kỷ XX, so sánh với các bản chú trước đó, trong bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỉ, Trần Trọng Kim in năm 1925 là bản Kiều quốc ngữ kế sau Trương Vĩnh Ký biết ghi khảo dị. Cộng cả phần khảo dị toàn truyện chỉ có 992 chú thích.
Bản chú giải này đã chú thích kỹ hơn so với cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của Trương Vĩnh ký. Ở thời điểm này, số người biết Hán học đã dần giảm đi nên nhu cầu về chú giải kỹ hơn. Tuy nhiên, cuốn của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim mới chỉ dừng lại ở việc chú thích gốc điển tích điển cố Hán học và 335 lần giải thích từ ngữ Hán học, hầu như không có phân tích về ngữ cảnh trong câu thơ, bình về các bản Quốc ngữ khác, bình về nhân vật và văn chương của Nguyễn Du. Năm 1941, Tản Đà đã biên khảo một cuốn chú giải Truyện Kiều bằng chữ Quốc đó là Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện, Tản Đà đã có 987 phần chú.
Ông vừa chú thích từ Hán, nguồn gốc các câu thơ từ Kinh thi, thơ Đường, các điển tích điển cố…và bắt đầu bình văn của Truyện Kiều. Tản Đà đã có 147 lần bình văn của Truyện Kiều. Cách chú giải của Tản Đà chú trọng văn chương hơn và tỉ mỉ hơn với bản Kiều của Trương Vĩnh Ký. Nhưng xét một các toàn diện thì bản Truyện Kiều chú giải của tác giả Lê Văn Hòe quả thật mẫu mực.
Trong bảng thống kê, Lê Văn Hòe đã thực hiện 2389 phần chú. Ông không chỉ chú thích từ ngữ (Hán việt, thuần Việt) mà còn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 chú điển tích điển cố, thành ngữ, chú giải ý nghĩa từng câu…và bình văn chương Truyện Kiều. Riêng phần từ ngữ ông chú giải 2552 từ ngữ (Phụ lục 1 – Tr90). Nhìn chung, Lê Văn Hòe đã chú giải đầy đủ các từ ngữ, cẩn thận, tỉ mỉ và dễ hiểu, đặt ra trước bạn đọc một bản Kiều mà Lê Văn Hòe cho là giống với nguyên tác nhất.1 Giải thích nghĩa của từ, thành ngữ, cụm từ 1.1 Đối với việc chú giải nghĩa của từ bao gồm từ thuần Việt và từ Hán Việt Lê Văn Hòe đã chú giải nghĩa của từ bằng một ngòi bút thận trọng, kỹ lưỡng và sâu sắc hiếm có.
Về chú giải nghĩa của từ thuần Việt, Lê Văn Hòe chú rất chi tiết và công phu. Ông chú giải kỹ lưỡng và có những từ ông giải nghĩa theo văn cảnh. Có thể ví dụ như: Chú 1, “Trăm năm” được dịch ra từ chữ Bách tuế 百歲, Người xưa cho rằng người ta chỉ sống đến trăm tuổi là cùng, nên dùng chữ “Trăm năm” để chỉ khoảng thời gian của người từ lúc đẻ đến lúc chết.Vậy câu thơ “Trăm năm trong cõi người ta” nghĩa là trong cả cuộc đời một con người. Ở bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, tác phẩm ra đời trước Truyện Kiều chú giải hơn 20 năm, Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim cho rằng “Trăm năm dịch từ chữ “Trang Tử” (có phiên âm chữ Hán) bách niên cảnh nhu ngã do vi nhân, ý là trong một cõi trăm năm mà ta vẫn là người, tức là trong cả cuộc đời người.
Tựu chung, ở hai bản đều dịch ra nghĩa giống nhau đó là trong cả một cuộc đời người”.tr52] Bản Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện của Tản Đà cũng bình về hai chữ “Trăm năm” do chữ “bách niên, bách tuế” mà dịch nghĩa ra. Về cơ bản, cách chú của Lê Văn Hòe ở hai chữ này đã kế thừa cách chú của Tản Đà. Chú 12, Lê Văn Hòe chú từ “Nghỉ” đó là tiếng Nghệ Tĩnh nghĩa như hắn, y, nó. Cách chú như thế hẳn là rất dễ hiểu, nhất là tiếng địa phương thì rất cần chú giải để mọi người, không phân biệt vùng miền vẫn có thể hiểu được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Hay như chú 19, với từ “Hoa cười”, Lê Văn Hòe chú là: cười tươi như hoa. So sánh với bản của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, ta thấy từ “Hoa cười” không được chú trong bản này. Tuy ra đời sau bản Truyện Thúy Kiều, nhưng không thể phủ nhận sự công phu của Lê Văn Hòe trong việc chú-bình tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Bản sau đã công phu, tỉ mỉ, chi tiết hơn các bản trước, thậm chí còn đính chính những chỗ chưa thật hợp lý so với bản của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, của Tản Đà.
Với lời chú 27, từ “Tính trời”, ở bản Bùi Kỉ-Trần Trọng Kim không chú từ này, nhưng ở bản Truyện Kiều chú giải, “Tính trời” được Lê Văn Hòe chú là thiên bẩm, thiên tính, nghĩa là tự nhiên mà có, như là do trời sinh ra.“Thông minh vốn sẵn tính trời” nghĩa là vốn thông minh từ thuở bé. Chú 39, Lê Văn Hòe chú từ “Cỏ non” tức cỏ mùa xuân; Quả thật ý chú giải của tác giả rất khớp với ý của tác giả Nguyễn Du. Khi ta đọc hai câu thơ: “Cỏ non xanh tân chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Hai câu thơ trên tả cảnh cuối mùa xuân, sắp sang mùa hè. Vì lê nở hoa vào đầu mùa hè, cỏ thì non xanh.
Không có từ ngữ nào nói về thời gian nhưng với nghệ thuật tả cảnh của tác giả ta cũng biết bấy giờ là cuối xuân. Chú 56 từ “Dầu dầu” được tác giả chú là: là hơi dầu, hơi héo, tức cỏ úa, sắc nửa vàng nửa xanh. Nói mộ có cỏ úa để tỏ rằng mộ không có ai thăm viếng, rẫy cỏ sửa sang, tức nấm mộ hoang. Ta thấy, tác giả chú thích cũng thật tỉ mỉ, rõ ràng.
Chú 72, “Thỏ” là con thỏ, đây là mặt trăng; người xưa tin rằng cái tinh trong mặt trăng là con thỏ. Chú 76, “Ngày xanh” là ngày xuân, ngày tuổi trẻ, do chữ thanh xuân 青春 mà ra. Cả câu thơ “Ngày xanh mòn mỏi mà hồng phôi pha”. Lê Văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Hòe chú giải nghĩa cả câu là ngày xuân qua đi lần lần bảo mòn, nhan sắc thì ngày một phai nhạt.
Chú 91, Từ “Hay” được tác giả chú là lạ, là nực cười. Hay sao là lạ làm sao, nực cười làm sao? Chú 102, “Đè chừng” là phỏng đoán ngọn gió thổi đi phía nào thì trông theo phía đó. Phải Đè chừng vì gió vô hình, người ta đoán phỏng chừng nó thổi đi đâu chứ không trông thấy rõ ràng được. Chú 109, “Lòng thơ” tức là khi lòng cảm thấy có hứng làm thơ (Muốn là thơ) câu này nghĩa là: ý thơ dào dạt trong lòng.
Chú 111, “Nhạc vàng” là nhạc bằng kim loại kim khí, tức là nhạc đồng chứ không phải bằng vàng. Vàng đây dịch chữ “kim” là kim loại, như đồng, sắt, vàng, bạc, chì thiếc. “Gần gần” là hơi gần. Nếu văn xuôi, thì câu này viết: tiếng nhạc vàng ở đâu nghe thấy gần gần.
Nhạc tức là nhạc đeo ở cổ ngựa. Không nói người nói ngựa, chỉ nói nhạc mà người ta biết có người đi ngựa. Qua phần chú giải từ ngữ Hàn Việt, Ta thấy, Lê Văn Hòe không chỉ chú giải từ ngữ trong câu mà còn giải nghĩa cả câu để người đọc Truyện Kiều hiểu kỹ lưỡng câu thơ, cho ta thấy rõ Nguyễn Du quả là bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ. Về chú giải nghĩa của từ Hán Việt, Lê Văn Hòe chỉ ra rất tỉ mỉ, trích xuất tường tận, chính xác nghĩa của từ.
Có thể ví dụ như: Chú 3, Từ “Bể dâu” trong câu: “Trải qua một cuộc bể dâu” Lê Văn Hòe chú rằng: “Bể dâu” dịch chữ “Tang thương” trong câu chữ sách Thần Tiên Truyện: Thương hải biến vi tang điền, tang điền biến bi thương hải: Bể cả biến thành ruộng dâu, ruộng râu biến thành bể cả. Trong bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, hai chữ “Bể dâu” cũng được chú như vậy. Do đó có thể thấy rằng, về phần chú này, Lê Văn Hòe đã cơ bản kế thừa nội dung Truyện Thúy Kiều. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Chú 7, Lê Văn Hòe chú từ “Cảo thơm” bằng cách kế thừa cách chú của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim: Cảo thơm tức Phương Cảo (có phiên âm chữ Hán), tức là pho sách thơm, ý nói pho sách hay lưu mùi thơm lại đời sau.
Hay như chú 8, cũng học tập cách chú trước của bản Truyện Thúy Kiều, Lê Văn Hòe chú từ “Sử xanh” là sử cổ. Và còn giải thích chi tiết rằng: Đời xưa chép sử sách vào thanh tre, cật tre nên gọi là Thanh Sử (có phiên âm chữ Hán). Chú 12, học giả họ Lê chú về từ “Gia tư” trong câu: “Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung” Ông chú “Gia tư” (có phiên âm chữ Hán) tức là của cải trong nhà, nghĩa cũng như gia tài. Phần này Lê Văn Hòe cơ bản kế thừa cách chú của Tản Đà trong Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện: “.là của cải trong nhà, cũng như nói gia sản”[5,tr12].
Hay chú 19, từ “ Đoan trang” được Lê Văn Hòe chú rằng: Đoan trang là đoan chính và trang nghiêm. Đoan chính là đứng đắn, trang nghiêm là bệ vệ đường hoàng. Hiếm có ai chú giải từ mà được chi tiết, tỉ mỉ như học giả họ Lê đây! Chú 124, “Trâm Anh”: trâm là cái trâm cài mũ, anh là giải mũ. Nhà trâm anh là nhà toàn người đội mũ, ý nói nhà danh giá.
Ngày xưa ở nước Tàu, người thường dân không được đội mũ. Chú 183: “Tú Khẩu cẩm tâm” là miệng thêu lòng gấm, ý nói tư tưởng đẹp, lời nói hay của nhà làm thơ. Giá trị những bài thơ ấy nó như thêu như gấm, khác hẳn thơ thường. Chú 308, Lê Văn Hòe chú rằng từ “Tất giao” 漆膠 tất là sơn, giao là keo.
“Lời gắn bó tất giao” là lời cam kết với nhau bền chặt như gắn bó bằng sơn và keo. Chú 399, “Yên” một thứ bàn dài và hẹp. “Thi đồng”: ống đựng thơ.