Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, đèn huỳnh quang và sợi đốt được thay thế bằng các đèn LED với tốc độ tăng nhanh chóng, bởi chúng có rất nhiều điểm ưu việt như: độ bền cao không sợ đứt tóc hay vỡ bóng, sinh nhiệt thấp hơn, tiêu thụ điện năng ít do hiệu suất phát sáng của LED rất cao, thẩm mỹ, linh hoạt trong sử dụng bởi vì LED có kích thước nhỏ nên dễ ghép thành đèn hay mảng phát sáng theo cấu hình bất kỳ. Thêm một lợi ích của đèn LED là chúng có khả năng chuyển cường độ ánh sáng khác nhau với tốc độ rất nhanh. Từ chức năng này phát triển công nghệ truyền thông bằng ánh sáng nhìn thấy (Visible Light Communications – VLC) ngày càng được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Ý tưởng là sử dụng Diode phát quang (Light Emitting Diode – LED) cho cả hai mục đích chiếu sáng và truyền thông tin tốc độ cao, giảm sử dụng các vật liệu có hại trong thiết kế và sinh nhiệt thấp hơn khi sử dụng liên tục.
Cũng chính từ sự gia tăng nhanh chóng trong việc sử dụng đèn LED đã cung cấp cho chúng ta một cơ hội để nghiên cứu phát triển công nghệ chiếu sáng bằng đèn LED. Khác với các công nghệ chiếu sáng cũ, đèn LED có khả năng chuyển sang ánh sáng khác nhau với mức cường độ và tốc độ rất nhanh. Tốc độ chuyển đổi nhanh đủ để không thể nhận ra bằng mắt người. Chức năng này có thể được sử dụng để liên lạc trong đó dữ liệu được mã hóa trong phát ra ánh sáng theo nhiều cách khác nhau.
Ngoài ra, LED là thiết bị bán dẫn có khả năng bật tắt ở tốc độ siêu cao. Chính vì những ưu điểm đó, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Phân tích ảnh hưởng của góc truyền, đường phản xạ và sự phân bố nguồn sáng trong truyền thông ánh sáng khả kiến dùng LED” Bằng cách sử dụng ánh sáng trắng để truyền tin, chúng ta có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề còn tồn đọng của công nghệ RF và mở rộng băng thông được xuống cho các thiết bị đầu cuối. Như vậy, LED không chỉ được sử dụng như một thiết bị chiếu sáng thông thường mà còn được sử dụng 4 như một thiết bị truyền thông băng siêu rộng. Với ưu điểm chủ yếu hiện nay của VLC là truyền thông không dây ở cự li ngắn, tốc độ cao trong nhà với giá thành rẻ và đảm bảo độ tin cậy, bảo mật thông tin, cũng như an toàn cho mắt người sử dụng.
Tổng quan về tình hình trong và ngoài nước Nghiên cứu trong nước: Năm 2016 Hội nghị toàn quốc lần thứ 8 về Cơ Điện tử - VCM-2016 được tổ chức tại trường Đại học Cần Thơ, tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Lâm Thanh Hiển, Trần Phú Cường, Đinh Công Sang, trường Đại học Lạc Hồng, Biên Hòa, Đồng Nai đã có bài báo Mô Hình Truyền Dữ Liệu Dùng Ánh Sáng LED Kết Hợp Giữa PLC (Power Line Communication) và VLC (Visible Light Communications). [1] Nghiên cứu ngoài nước: Hiện tại có rất nhiều dự án nghiên cứu khoa học trên thế giới về VLC đã và đang được triển khai. Phòng thí nghiệm Nakagawa của đại học Keio đã xuất bản rất nhiều bài báo nghiên cứu về VLC, cụ thể như những phân tích cơ bản về VLC [2], sự kết hợp của VLC với truyền thông trên đường dây điện [3]. Ở Hàn Quốc cũng đã công bố rất nhiều nghiên cứu như kết quả đo cho điều chế băng thông của LED [4].
Nghiên cứu của đại học Oxford về vấn đề điều chế băng thông của LED ứng dụng cho VLC cũng đã được công bố [5], công nghệ VLC được các nhóm nghiên cứu trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ như hiệp hội truyền thông bằng ánh sáng nhìn thấy tại Nhật Bản (Japan's Visible Light Communications Consortium and Its Standardization Activities – VLCC) [6], diễn đàn nghiên cứu thế giới vô tuyến (the Wireless World Research Forum - WWRF) [7] và rất nhiều nhóm nghiên cứu khác trên toàn thế giới. IEEE đã đưa ra chuẩn 802.15 dành cho một thế hệ mạng không dây mới trong đó có VLC [8]. Có thể khái quát một số định hướng nghiên cứu chính của các nhóm VLC trên toàn thế giới như cải thiện tốc độ và khoảng cách truyền dữ liệu [9], nghiên cứu về các đặc tính kênh truyền [10], nghiên cứu các phương pháp điều chế và một số định hướng nghiên cứu khác. Mục tiêu nghiên cứu Trong luận văn này, tác giả đề xuất giải quyết các vấn đề về sự ảnh hưởng của góc truyền, đường phản xạ, khoảng cách truyền và sự phân bố nguồn sáng trong truyền thông ánh sáng khả kiến dùng LED.
Tính toán nguồn phản xạ ảnh hưởng lên năng lượng thu của photodiode. Mô phỏng năng lượng thu của máy thu để phân tích sự tác động bởi góc truyền và sự phản xạ ánh sáng, khoảng cách truyền, ngoài ra nếu phân bố nguồn sáng hợp lí sẽ cải thiện đáng kể năng lượng thu. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu này sẽ làm cơ sở nền tảng vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao độ tin cậy cũng như khả năng ứng dụng của truyền thông dùng đèn LED trong tương lai. Kết quả đạt được 1.
Kết quả lý thuyết - Trình bày chi tiết lý thuyết về truyền thông không dây dùng đèn LED (VLC) - Tính toán, xây dựng sơ đồ mô hình kết nối giữa phần phát và thu VLC. Kết quả thực nghiệm - Mô phỏng các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng truyền VLC. - Thi công mô hình thực nghiệm truyền thông VLC. 6 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Cơ sở lý thuyết của Visible Light Communication (VLC) VLC là kỹ thuật truyền thông bằng ánh sáng nhìn thấy, sử dụng phần ánh sáng nhìn thấy được để truyền thông tin, để so sánh thì VLC gần giống công nghệ truyền thông không dây (ví dụ như Wi-Fi) sử dụng các tín hiệu sóng điện từ (Radio Frequency – RF) để truyền dữ liệu. Ánh sáng nhìn thấy được (Visible Light) là dạng sóng với các bước sóng nằm trong khoảng mắt người có thể nhận biết được. Các bước sóng này nằm trong khoảng từ 380nm đến 750nm.1 dưới đây cho ta thấy các bước sóng ánh sáng được gắn với tông màu mà mắt thường có thể nhìn thấy. Quang phổ ánh sáng khả biến nhìn thấy [11] Với VLC, dữ liệu được truyền đi bằng cách điều chế cường độ của ánh sáng nhưng không để cho mắt người bình thường nhận biết được sự thay đổi này.
Ánh sáng mang theo dữ liệu khi đến phía thu sẽ được nhận bởi Photo-sensitive Detector (PD) hoặc chip cảm biến hình ảnh (CMOS) giải điều chế chuyển đổi từ tín hiệu quang thành tín hiệu điện. VLC chính là một nhánh trong công nghệ truyền thông không dây quang (Optical Wireless Communications – OWC). OWC sử dụng cả tia hồng ngoại (infra-red) và tia cực tím (Ultra-violet) để truyền thông tin tương tự như ánh sáng 7 nhìn thấy. Tuy nhiên, chính việc sử dụng năng lượng vừa dùng để chiếu sáng vừa để truyền thông tin đã khiến cho công nghệ VLC trở nên ưu tú hơn cả.
Quá trình phát triển của Visible Light Communication (VLC) Truyền thông bằng quang phổ khả kiến đầu tiên bắt đầu ở phòng thí nghiệm Nakagawa ở Đại học Keio, Nhật Bản vào năm 2003 [9]. Điều này có được là bởi sự nhảy vọt trong việc nghiên cứu và phát triển ở phạm vi toàn cầu. Bởi chuyển đổi tắt và mở chất lân quang ở đèn LED trắng rất mau chóng, tốc độ truyền dữ liệu lên đến 40 Mb trên giây (Megabyte per second) có thể được thực hiện một cách dễ dàng. - Năm 2004: Công bố hệ thống LED truyền dẫn dữ liệu tốc độ cao đến thiết bị di động cầm tay tại Nhật Bản.
- Năm 2004: Hệ thống đèn LED dùng cho truyền dẫn dữ liệu ở tốc độ cao điều khiển bằng tay và phương tiện kết nối với thiết bị máy tính ở Nhật Bản. - Năm 2005: Thử nghiệm truyền thông VLC bằng truyền thông tới điện thoại di động, với tốc độ dữ liệu ước khoảng 10 Kbps và tới vài Mbps sử dụng đèn huỳnh quang và đèn LED ở Nhật Bản. - Năm 2007: Thực hiện truyền dẫn VLC từ màn hình LCD sử dụng đèn nền Led tới thiết bị cầm tay, hãng tivi Fuji, Nhật Bản. - Năm 2007: Hiệp hội truyền thông bằng quang phổ khả kiến ở Nhật Bản đưa ra hai tiêu chuẩn: - Tiêu chuẩn truyền thông bằng quang phổ khả kiến.
- Tiêu chuẩn nhận dạng quang phổ khả kiến. - JEITA (Hiệp hội công nghiệp Điện tử và công nghệ thông tin của Nhật Bản) thừa nhận những tiêu chuẩn này và đặt tên JEITA CP-1221 và JEITA CP-1222. - Năm 2008: Phát triển những tiêu chuẩn toàn cầu cho mạng Internet cho nhà riêng bao gồm sử dụng công nghệ OWC, tia hồng ngoại và truyền thông bằng quang phổ khả kiến; diễn ra tại tòa nhà OMEGA, Liên minh Châu Âu. Giới thiệu công nghệ VLC bằng việc sử dụng 5 đèn LED với một tốc độ truyền dữ liệu lớn 8 hơn 100 Mbps, truyền đi khoảng cách xa hơn một vài mét sử dụng điều khiển LOS.
Cấp độ truyền tải đã được ra mắt công chúng sử dụng ánh sáng tán xạ ở mặt ngoài của những bức tường từ những đường truyền; được tổ chức tại tòa nhà OMEGA, Châu Âu. - Năm 2008: Hiệp hội truyền thông bằng quang phổ khả kiến ở Nhật Bản và Hiệp hội dữ liệu hồng ngoại quốc tế cùng nhau bàn về những tiêu chuẩn kỹ thuật tại Hoa Kỳ. - Năm 2009: VLCC đã ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật đầu tiên, nó hợp nhất và mở rộng dựa vào tiêu chuẩn cốt lõi của Hiệp hội dữ liệu hồng ngoại quốc tế và đã định nghĩa quang phổ để cho phép sử dụng của bước sóng ánh sáng. - Năm 2010: Phát triển công nghệ VLC cho truyền thông giữa các sản phẩm điện tử trong một vùng rộng, chẳng hạn truyền hình độ phân giải cao, những trạm thông tin, những máy tính cá nhân, những chiếc điện thoại thông minh.
tại Đại học California, Hoa Kỳ. - Năm 2010: Giới thiệu VLC với hệ thống định vị toàn cầu (viết tắt GPS) ở Nhật Bản. - Năm 2010: Truyền dẫn một hệ thống FM-VLED với tốc độ 500 Mbps hơn khoảng cách 5m, diễn ra ở Viện Siemens và Heinrich Hertz, Cộng hòa Liên Bang Đức. - Năm 2010: Phát triển một tiêu chuẩn cho các công nghệ VLC mạng khu vực không dây làm việc bởi nhóm IEEE vẫn đang tiếp diễn tại số 802157 Task.
- Năm 2011: Giới thiệu nền tảng VLC là OFDM, truyền dữ liệu với tốc độ 124 Mbps bằng thời gian thực, sử dụng chất lân quang đèn LED trắng phủ photphor, diễn ra tại Đại học Edinburgh, Vương quốc Anh.