ĐẶT VẤN ĐỀ Dân số Việt Nam với hơn 100 triệu người, đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 15 trên thế giới nên nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân không ngừng nâng cao. Nhân lực y tế nói chung và nhân lực dược nói riêng là mắt xích quan trọng góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo mục tiêu Chiến lược quốc gia. Do đặc thù công việc là chăm sóc sức khỏe nhân dân, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người nên đòi hỏi nguồn nhân lực phải đảm bảo về số lượng và chất lượng để người dân được hưởng dịch vụ chăm sóc với chất lượng tốt. Ngành Dược là một ngành đặc thù, đòi hỏi phải có chuyên môn về thuốc.
Theo thống kê, số lượng dược sĩ giai đoạn 2016-2023 tăng lên đáng kể. Tỷ lệ dược sĩ/ vạn dân đã tăng theo các năm: năm 2016 là 3,0 dược sĩ/vạn dân, đến năm 2022 là 3,2 dược sĩ/vạn dân [1]. Có thể nói, dược sĩ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời với giá cả hợp lý và tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý thông qua hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược. Chính vì vậy, trong Chiến lược Quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra mục tiêu đến năm 2030 đạt tỷ lệ 4,0 dược sĩ/1 vạn dân, trong đó dược sĩ được đào tạo về dược lâm sàng chiếm tối thiểu 20%[2].
Cùng với đó ngày 02/11/2020, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định số 131/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động dược lâm sàng của cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó quy định rõ số lượng người phụ trách công tác dược lâm sàng và người làm công tác dược lâm sàng tại các cơ sở khám, chữa bệnh. Điều này cho thấy thực tế cần phải xem xét thực trạng nhân lực dược và nhu cầu nhân lực dược hiện nay tại các địa phương để từ đó có chiến lược phát triển nguồn nhân lực dược đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh hiện nay. Tỉnh Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất trong cả nước, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, đứng thứ 6 về dân số trung bình của khu vực Đồng bằng Sông Hồng và đứng thứ 22 của cả nước [3]. Với mật độ dân cư đông nên nhu cầu chăm sóc sức 1 khỏe cho nhân dân lớn.
Thực tế đó đòi hỏi các cơ sở y tế trong tỉnh phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Chất lượng dịch vụ dược phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con người, trang thiết bị, cơ sở vật chất, thuốc, công nghệ,… trong đó con người là yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, các cơ sở y tế cần chú trọng, nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực dược có chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc để nâng cao chất lượng dịch vụ dược trong cơ sở y tế, đặc biệt là cơ sở y tế công lập. Trong những năm gần đây, ngành Y tế tỉnh Bắc Ninh được sự quan tâm của Bộ Y tế và UBND tỉnh Bắc Ninh đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tuy nhiên việc phân bổ nguồn nhân lực dược giữa các cơ sở y tế chưa đồng đều.
Câu hỏi đặt ra là thực trạng sử dụng nguồn nhân lực dược ở các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh như thế nào? Thực trạng nguồn nhân lực làm công tác dược lâm sàng tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh hiện nay ra sao? Từ những lý do trên, đề tài: “Phân tích thực trạng nguồn nhân lực dược tại các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” được thực hiện với hai mục tiêu: - Mô tả thực trạng cơ cấu nhân lực dược tại các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2023. - Phân tích thực trạng nhân lực dược thực hiện hoạt động dược lâm sàng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2023. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhân lực dược trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.1 Một số lý luận cơ bản về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nhân lực Nhân lực là sức lực của mỗi con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm có thể lực và trí lực.
Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của con người tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiểu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng người. Trong sản xuất, kinh doanh truyền thống việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã được khai thác gần tới mức cạn kiệt. Sự khai thác các tiềm năng về mặt trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người [4].2 Khái niệm nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, phát triển khi xem con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực đóng góp vào sự phát triển của xã hội.
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. [5] 3 Theo Liên hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới (Nghị quyết số 20- NQ/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2017) xác định mục tiêu tổng quát: Nâng cao sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam.
Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Phát triển nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng. Bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khoẻ. Để thực hiện mục tiêu đó, cần xây dựng hệ thốngmạng lưới y tế rộng khắp, gần dân; được chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt về chuyên môn, nghiệp vụ theo ngành từ Trung ương tới địa phương trong phạm vi cả nước, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương.
Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ y tế "Thầy thuốc phải như mẹ hiền", có năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi sản xuất, cung ứng dược phẩm, dịch vụ y tế. “Nghề y là một nghề đặc biệt. Nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.
Hệ thống mạng lưới y tế phải rộng khắp, gần dân; được chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt về chuyên 4 môn, nghiệp vụ theo ngành từ Trung ương tới địa phương trong phạm vi cả nước, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo,chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương[6]. Nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực y tế luôn có vai trò quan trọng. Bởi một trong những yếu tố quyết định đến vai trò của Nhà nước đối với quản lý phát triển ytế là đội ngũ nhân lực. Nguồn nhân lực y tế có đủ năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ,phẩm chất đạo đức… có vai trò quan trọng dẫn đến thành công hay thất bại trong việc nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo của mình đối với công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực y tế có đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn hay không, việc thực hiện các chính sách ấy có hiệu quả hay không, có phát huy được tác dụng hay không… phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất,đạo đức của nguồn nhân lực y tế.