Chương I: Những van dé chung về mức sinh và các nhân tố ảnh hưởng. Chương II: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sinh Việt Nam (theo kết quả tổng điều tra dân số 1/4/2009). Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài em nhận được giúp đỡ tận tình của thầy giáo Ths.Đỗ Văn Huân tuy nhiên không thé tránh được những thiếu sót vì thế em rất mong nhận được sự nhận xét của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn.
SV: Bùi Đức Hạnh 1 Lóp: Thống kê KTXH 51 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Đỗ Văn Huân CHUONG I: NHỮNG VAN DE CHUNG VE MỨC SINH VA CÁC NHAN TO ANH HUONG 1.Giới thiệu chung về mức sinh. Mức sinh, mức chết và đi cư là 3 nhân tố chủ yếu tác động đến quá trình tăng trưởng dân số. Trong các nhân tô đó mức sinh giữ vai trò quan trọng nhất vì nó là yếu tố chính cho sự thay thế sinh vật học và duy trì phát triển của nhân loại.
Việc phân tích mức độ, xu hướng và những khác biệt về mức sinh của dân số theo các đặc trưng kinh tế- xã hội khác nhau là cơ sở xây dựng các chương trình, chiến lược và chính sách dân sô. Mức sinh phản ánh mức độ sinh đẻ thực tế của một tong thé dan cu trong thoi ky nghiên cứu, mức sinh không những phụ thuộc vào khả năng sinh san của mỗi người phụ nữ mà còn phụ thuộc vào các nhân tố dân số, kinh tế xã hội khác như: mức độ kết hôn, tuổi kết hôn, thời gian sông trong hôn nhân, số con mong muốn của các Cặp vợ chồng, trình độ phát triển kinh tế xã hội, chính sách dân số của nhà nước. Ở Việt Nam trong những năm trở lại đây đang có xu thế giảm sinh khá vững chắc, kết quả này có được là nhờ chiến lược dân số kế hoạch hóa gia đình 2001- 2010. Thành công này không chỉ giúp nước ta giảm được tốc độ gia tăng dân số nhanh mà còn là cơ sở dé tạo ra một bước chuyền đổi có tính căn ban trong lĩnh vực sinh sản, chuyền từ sinh sản tự nhiên với mức sinh rất cao sang sinh đẻ có kế hoạch với mức sinh hợp lý duy trì sự cân bằng của mức sinh dân số.
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến mức sinh. Một số mô hình lý thuyết nghiên cứu. - Mô hình John Bongaarts. - Phương pháp của Ronald Freedmen.
- Lý thuyết mao dẫn xã hội ở Pháp. - Ly luận tiêu dùng vi mô và mức sinh của G. SV: Bùi Đức Hạnh 2 Lóp: Thống kê KTXH 51 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Các nhân tô chủ yếu ảnh hưởng đến mức sinh.
- Tâm lý thích có con trai. Việt Nam là một quốc gia phương đông, chịu ảnh hưởng nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, người ta thường cho rằng nam giới là trụ cột gia đình, người gánh vác mọi trọng trách trong gia đình và xã hội. Tâm lý thích có con trai dẫn đến việc mong muốn có một số lượng con trai tối thiểu đã làm ảnh hưởng đến hành vi sinh sản của các bậc cha mẹ, họ chấp nhận sử dụng các biện pháp dé có số con trai nhiều hơn con gái. - Nhận thức về các biện pháp tránh thai và chương trình kế hoạch hóa gia đình.
Với sự phát triển mạnh mẽ của y học ngày nay, mức sinh phụ thuộc chặt chẽ vào việc tuyên truyền, phô biến áp dụng các biện pháp tránh thai. Ở các nước phát triển tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai thường đạt mức rất cao, ngược lại ở các nước đang phát triển như Việt Nam tỷ lệ này thương thấp hơn nhiều - Tử vong. Tử vong được coi là một nhân tố có tác động rất lớn đến mức sinh, tuy nhiên mối quan hệ tác động này có thể diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau. Khi điều kiện sống được cải thiện, mức tử vong giảm làm khả năng sinh đẻ tăng lên.
Về ty lệ tử vong trẻ em, nhất là trẻ em dưới 1 tuổi có ảnh hưởng rat lớn đến mức sinh, bởi khi đó sẽ nảy sinh tâm lý sinh con bù của các vặp vợ chồng. Vì thế việc giảm tỷ lệ tử vong cũng sẽ làm giảm mức sinh. - Nhân tố kinh tế. Nhóm nhân tố này rất đa dạng và phong phú, tác động theo nhiều chiều hướng khác nhau, nhưng thực tế đã chứng minh rằng đời sống thấp thì mức sinh cao và ngược lại.
Ở Việt Nam, trẻ em như một loại hang hóa dé đầu tư, cha mẹ hy vọng nhận được lợi ích về mặt kinh tế trong tương lai từ con cái họ, chi phí nuôi dậy trẻ em thấp đặc biệt là ở nông thôn, ngay từ khi còn nhỏ trẻ em đã có thể đóng góp vào thu nhập gia đình bằng việc lao động đồng ruộng, chăn nuôi gia súc gia cầm và nhiều việc làm khác. Chính vì thế ở những vùng có thu nhập trình độ văn hóa thấp mức sống không ổn định thì thường có mức sinh cao. SV: Bùi Đức Hạnh 3 Lóp: Thống kê KTXH 51 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Đỗ Văn Huân - Tôn giáo.
Tôn giáo tín ngưỡng là một nhân tố có ảnh hưởng đáng kề đến mức sinh. Có thê thấy được người theo đạo Thiên chúa có mức sinh cao hơn người Do thái, người Hồi giáo thường có mức sinh cao hơn người không theo đạo Hồi. Nguyên nhân chính của can đề trên là do các tư tưởng, chủ thuyết của các tôn giáo là không giống nhau đối với van dé sinh đẻ và các biện pháp tránh thai. - Trình độ học van.
Trình độ học vấn của dân cư tác động không trực tiếp đến mức sinh nhưng lại là một yếu tố hết sức quan trọng. Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và mức sinh là mối quan hệ tỷ lệ nghịch, ta có thé thấy trình độ học van của người phụ nữ có tác động lớn đến mức sinh như thế nào. Phụ nữ có trình độ học vấn cao thường kết hôn muộn, phụ nữ kết hôn sớm sẽ bước vào sinh đẻ sớm, thời gian sinh đẻ dài nên sẽ có khả năng sinh nhiều con, ngược lại những phụ nữ có trình độ học vấn cao phải dành nhiều thời gian hơn cho việc học tập, sự nghiệp, dẫn đến việc kết hôn muộn và thời gian sinh đẻ sẽ ít hơn và họ sẽ ít con hơn. Trình độ học van cao tạo điều kiện cho người phụ nữ có hiểu biết nhiều hơn về các thông tin dân số kế hoạch hóa gia đình, có kiến thức về các biện pháp tránh thai.
Trình độ văn hóa có thé giúp người mẹ nâng cao tỷ lệ mẹ tròn con vuông hoặc giảm tỷ lệ chết trẻ sơ sinh do chấp nhận chế độ đinh dưỡng khoa học hơn. Với học vấn của mình các bà mẹ sẽ hiểu rõ những yêu cầu về dinh dưỡng và vệ sinh cho con làm cho tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh giảm xuống, và như đã nói ở trên, tỷ lệ tử vong giảm cũng làm mức sinh giảm theo. - Môi trường. Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến mức sinh, điều này được thé hiện rõ nhất qua sự khác biệt về mức sinh giữa các nước đang phat triển và nước phát trién, giữa thành thị và nông thôn.
Nguyên nhân sau xa của mối quan hệ này là do chênh lệch về trình đọ phát triển, sự khác nhau về đặc điểm kinh tế xã hội. Hệ thong chỉ tiêu nghiên cứu các nhân to chủ yếu ảnh hưởng đến mức sinh. Mức sinh có thé được nghiên cứu cho từng thế hệ theo cách tiếp cận dọc, nhưng trong thực tế nó thường được nghiên cứu cho một tập hợp dân cư, một tập hợp phụ nữ có trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). SV: Bùi Đức Hạnh 4 Lóp: Thống kê KTXH 51 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS.
Đỗ Văn Huân e Tý số trẻ em phụ nữ CWR. Tỷ số trẻ em phụ nữ phản ánh quan hệ giữa số trẻ em đưới 5 tuôi với số phụ nữ trong tuôi sinh đẻ. CWR = Poa Wi5-49 P, : Số trẻ em từ 0-4 tuổi. W,s-49: Số phụ nữ trong độ tuôi sinh đẻ.
Chỉ tiêu này giúp ta đánh giá khái quát mức sinh của cả thời kỳ 5 năm liền trước thời điểm nghiên cứu. Trên góc độ thống kê tỷ số này không đảm bảo tính chât so sánh nên mức chính xác không cao, tuy nhiên trong điêu kiện thiêu sô liệu nó lại được sử dụng làm cơ sở đê ước lượng gián tiêp mức sinh. e Tỷ suất sinh thô. CBR= tưmy|| B: Số trẻ em được sinh ra trong năm.
P: Số dân bình quân năm. Tỷ suất sinh thô biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong 12 tháng trước thời điểm điều tra tính bình quân trên 1000 dân, đây là một chỉ tiêu cơ bản được dung nhiều trong các nghiên cứu về dan sé, tuy nhiên nó còn chịu ảnh hưởng của cấu trúc dân cư theo tuôi và theo giới. e Tỷ suất sinh chung. B GFR = Wl; „ Chỉ tiêu này biểu thị mức sinh đẻ bình quân trong năm của 1000 phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi.
Nó không chịu ảnh hưởng của cơ cấu dân cư theo giới nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng của câu trúc tuôi của sô nữ trong tuôi sinh đẻ. e Ty suat sinh đặc trưng theo tuôi. ASFR, = W x SV: Bùi Đức Hanh 5 Lóp: Thống kê KTXH 51 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Đỗ Văn Huân ASER phản ánh chính xác mức sinh ở từng độ tuổi của phụ nữ, tuy nhiên nó lại quá chi tiết nên nhiều khi không có đủ số liệu dé tính toán, mặt khác chỉ tiêu này lại có thể bị ảnh hưởng bởi việc khai báo tập trung vào các độ tuôi là bội số của 5.
Thực tế ASFR thường được tính cho một năm đối với tất cả các độ tuổi theo phương pháp tiếp cận ngang nhằm đánh giá mức sinh của năm nghiên cứu. Tuy nhiên ASER cũng có thể được tính cho tùng thế hệ thực tế theo cách tiếp cận dọc. Chúng ta có thé dùng công thức này dé phân biệt tỷ lệ sinh ở các nhóm tuổi khác nhau trong một hay nhiều năm, qua đó ta cũng sô sánh và đánh giá được tỷ lệ sinh của từng nhóm tuổi phụ nữ thành thị và nông thôn trong từng thời kỳ. Chỉ tiêu này được dùng dé tính tông tỷ suất sinh hang năm.
e Tổng tỷ suất sinh. TFR = » ASFR, =5* » ASFR, x=15 i=l Thực chất TFR phản ánh số con trung bình mà một bà mẹ có thể sinh được, nếu sống đến hết tuổi sinh đẻ và người phụ nữ này có mức sinh theo tuổi giống y hệt như các ASFR đã được chỉ ra.