Chương 1 THI PHÁP CHÂN KHÔNG VÀ TIỂU THUYẾT KAWABATA YASUNARI 1. Khái lược về thi pháp chân không 1. Khái niệm chân không Theo Từ điển tiếng Việt, “chân không” là “không gian không chứa một dạng vật chất nào cả” [72; 185]. Trong Thiền tông Phật giáo, “chân không” có tính chất hoàn toàn đối lập, khác biệt với định nghĩa trên.
Để hiểu thuật ngữ này, thiết nghĩ, chúng ta cần tìm hiểu những đặc điểm, yếu tính của Thiền. Thiền tông là một tông phái của Phật giáo Đại thừa, khởi nguyên từ Ấn Độ. Theo giai thoại “Niêm hoa vi tiếu”, Thiền là một truyền thống giảng dạy có cội nguồn từ Đức Phật. Khi nhập diệt, Phật đã truyền tâm ấn lại cho Ca Diếp.
Sau sơ tổ Ca Diếp, Thiền tông Ấn Độ truyền tiếp được hai mươi bảy đời. Vào thế kỷ thứ VI, vị tổ thứ hai mươi tám là Bồ Đề Đạt Ma đưa phép Thiền của Phật giáo vào Trung Quốc. Qua thời gian, Thiền phát triển thành nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên, nó vẫn mang nặng ảnh hưởng của Ấn Độ.
Phải đến lục tổ Huệ Năng, Thiền tông Trung Quốc mới có màu sắc riêng, chịu ảnh hưởng ít nhiều của đạo Lão. Đến cuối thế kỷ XII, hai tông Tào động và Lâm tế du nhập vào Nhật Bản. Hai tông phái này, có những đặc điểm khác nhau và đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Phái Tào động là Thiền mặc chiếu chú trọng Định, phái Lâm tế là Thiền công án đặt nặng Huệ.
Cả hai phái này bổ sung lẫn nhau, tinh thần Thiền là sự trung đạo của hai phái. Thiền đòi hỏi Định - Huệ phải đồng thời. “Huệ thành đạt là nhờ tu tập Định và nằm sẵn ngay mọi sự chứng nghiệm” [54; 73]. Ở mỗi quốc gia, Thiền phát triển với màu sắc riêng nhưng nó vẫn có đặc tính chung là sự hòa hợp: “tri của Ấn Độ, hành của Trung Hoa và tình của Nhật Bản” [1; 172].
Thiền trở thành “một nghệ thuật tu tâm sửa tánh, một nghệ thuật dung hòa cả đức và trí, cả mình và người, cả không gian - thời gian, cả nhân sanh và vũ trụ” [1; 172]. Thiền quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh nhất mọi nghi thức tôn giáo và mọi lí luận về giáo pháp. Những nét đặc trưng của Thiền có thể tóm tắt qua bài kệ (theo tương truyền của tổ Bồ Đề Đạt Ma) như sau: Giáo ngoại biệt truyền Bất lập văn tự Trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật. Thiền không chủ trương mong cầu sự giúp đỡ bên ngoài mà mỗi người phải nỗ lực hành trì, phải tự mình kinh nghiệm vào mảnh đất tâm của chính mình.Suzuki, “Thiền nhằm đào luyện tâm, làm chủ tâm, qua sự kiến chiếu vào tận thể tánh”[54; 37].
Không khai ngộ được diệu tâm thì không phải Thiền. Vì thế, Thiền tông còn được gọi là Phật tâm tông. Yếu tính của Thiền là ngộ (hay còn có một tên gọi khác là kiến tánh). Khó có thể định nghĩa một cách chính xác về ngộ, nó được mô tả như một sự thấu hiểu xuyên suốt, hốt nhiên nhận biết chân lý.
Ngộ xuất hiện khi tâm thức chứng nghiệm trạng thái “nhất niệm”. Tức một thời điểm không có quá khứ lẫn tương lai, thời gian thu ngắn lại thành một điểm không còn thời hạn. Thời khắc này gọi là “hiện thời tuyệt đối” hay “hiện tại vĩnh hằng”. Ngộ mang tính chất phi thời gian, “nơi thời gian hiệp nhất với không gian và không còn sai khác” [54; 223].
Với đôi mắt ngộ, Thiền nhìn mọi sự vật thấu thị, như chúng đang là. “Ngộ vừa là hoàn toàn tịch diệt vừa là phát minh sáng tạo”[54; 98]. Khi ở trạng thái ngộ, tức là cảnh giới của chân không. Chân không ở đây tuyệt nhiên không phải là không suông, sự trống rỗng đơn thuần, hư không vật chất.
Nếu chân không là sự trống không thì Thiền không còn có ý nghĩa gì đối với cuộc sống thường nhật đầy rẫy những thất vọng, đau khổ, phiền toái. Chân không được hiểu là đã đoạn từ mê chấp về ngã và pháp, đoạn trừ mọi mê hoặc và phiền não. Chân không là tâm không vướng mắc sáu trần, tâm chân thật, là “bản nhiên thanh tịnh”. Khi buông bỏ tất cả, tâm lặng lẽ thì cái thấy biết trở nên mênh mông, bát ngát.
Thích Thông Tuệ trong cuốn Thiền là gì? cũng cho rằng: “Tâm này lặng lẽ, không có hình tướng nên không thuộc về có; nhưng nó hằng tri hằng giác, biết một cách thấu thể mọi sự vật hiện tượng trong tận cùng pháp giới, nên không thuộc về Không. Vì vậy, nó được gọi là chân không”[32; 39] (cũng có thể gọi là Phật tánh, là Pháp thân, là Bản lai diện mục, là tâm Thiền). Chân không khởi phát diệu dụng, hướng tới cảnh giới tuyệt đối. Con đường của Thiền là hướng nội.
Thiền đi ngay vào chính đối tượng và nhìn nó như đang là. Thiền loại trừ lối phân tích, mổ xẻ sự vật theo kiểu khách quan, bởi như thế không bao giờ đi đến tận cùng chân lý cứu cánh. Mọi sự suy luận, tư biện hay trầm tư, quán tưởng đều xa rời Thiền và đưa Thiền vào cái mê cung vòng vèo. Khi ta nhìn bông hoa thì bông hoa không phải là đối tượng mà bông hoa như chính nó đang là, ta và bông hoa là một, nở như bông hoa và “hân thưởng ánh mặt trời như mưa rơi”.
Bằng trực giác Bát nhã, ta biết được cái Ngã của mình cũng như bông hoa, tìm thấy “cốt tủy của sự sống” và thấy cả vũ trụ vi diệu trong bông hoa nhỏ. Có thể nói, ““một” tức “tất cả”, và “tất cả” tức “một” và khi vạn pháp quy nhất chính là chân không, con đường hướng nội đã thành tựu” [54; 90]. Con đường hướng nội là con đường nhằm đạt đến chân không. Do chủ trương đi vào nội giới nên Thiền có tính chỉ thẳng, giản dị, vĩnh tịch…Chỉ thẳng là trực tiếp với chủ đích, loại trừ mọi hình thức trung gian.
Chỉ cần đưa một ngón tay lên là cả vũ trụ nằm trọn trong đó. Chỉ thẳng là một cách nói khác của tính giản dị. Khi chúng ta dẹp bỏ tất cả các ý niệm trung gian thì hạt cát nhỏ cũng đủ soi chiếu cả vũ trụ, một giọt nước biển cũng có đủ tính chất của cả đại dương bao la hay “chỉ một cọng cỏ cũng đủ thay thế đức Đại Nhật Như Lai (Vairochana) cao trượng sáu” [57; 362]. Thiền giản dị vì nó không phải ở nơi đâu cao xa mà tồn tại ngay trong cuộc sống của chúng ta.
Nhặt rau, chẻ củi… đều có thể gọi là Thiền.Suzuki từng nói: “Một chòi tranh khiêm tốn trên núi, một nửa dành cho những đám mây trắng và một nửa còn lại đủ cho nhà hiền triết” [57; 362]. Còn vĩnh tịch trong Thiền là cảm giác về sự cô liêu. Nhưng cô liêu ở đây không phải là nỗi lòng cô đơn, cảm giác bị bỏ rơi hay tâm tình nặng trĩu mà là sự cô độc tuyệt đối, “sự cô liêu của một thể tính tuyệt đối”. Bên cạnh hướng nội, Thiền còn có tính chất hòa nhập với ngoại giới, có mối quan hệ gắn bó với thiên nhiên.
“Thiền đề nghị kính trọng thiên nhiên, thương yêu thiên nhiên, sống hòa điệu với thiên nhiên. Thiền nhìn nhận bản tánh của chúng ta là một với thể tánh của cảnh giới sự vật, không phải theo nghĩa toán học mà hàm ý thiên nhiên sống trong ta và ta sống trong thiên nhiên” [54; 468]. Thiền yêu cầu con người sống hài hòa với thiên nhiên và biết thưởng ngoạn thiên nhiên. Khi hòa nhập với thiên nhiên, đi vào thiên nhiên, sống với thiên nhiên như chính nó đang là, con người sẽ chứng nghiệm được cái “rỗng rang trong suốt”.
Nếu khởi tâm vọng niệm tách đôi thành chủ thể và khách thể thì tình yêu thiên nhiên sẽ bị uế nhiễm bởi sự nhị biên, ngụy biện và không bao giờ ta thấy được sự bí ẩn, vi diệu của thiên nhiên. Như vậy, chân không trong Thiền học là sự rỗng rang tuyệt đối, là cái “không” tràn đầy năng lực và mang ý nghĩa đầy chặt. Chân không là tâm ta tự tại vô ngại, buông bỏ tất cả mọi vọng niệm, hướng tới cái thấy biết bằng trí tuệ. Thi pháp chân không trong nghệ thuật truyền thống Nhật Bản Vấn đề thi pháp đã được nhiều nhà nghiên cứu đào sâu ở mọi phương diện.
Vì thế, chúng tôi không đi vào bàn bạc, lý giải mà áp dụng để khám phá chân không trong nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản. Du nhập vào Nhật Bản muộn, nhưng nơi đây Thiền thật sự tươi tốt và đơm hoa kết trái xum xuê. Thiền có ảnh hưởng sâu rộng tới nền văn hóa và quy định tính cách, lối tư duy thẩm mỹ của người Nhật. Tư tưởng Thiền trở thành “cốt tủy” trong đời sống văn hóa nghệ thuật.
Trước hết, ảnh hưởng của Thiền đối với trà đạo. Trà được đưa vào đời sống văn hóa Nhật Bản từ rất sớm, theo gót chân quy lương của thiền sư Eisai cuối thế kỷ XII. Sau đó, trải qua thời gian được nâng lên thành nghệ thuật trà đạo. Nơi tổ chức trà đạo chỉ là một túp lều trống không, một bức họa đơn sơ (có thể là bức tranh sơn thủy hoặc bức tranh miêu tả hình bóng, hạnh nguyện của các vị tổ sư) và một bình hoa tươi thắm.
Xung quanh túp lều có cây cối um tùm, suối chảy róc rách. Người thưởng thức trà với một tinh thần hòa, kính, tịnh, an. Tất cả thể hiện sự hài hòa, hòa hợp, kính trọng giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người. Trong không khí cổ xưa, an bình, người thưởng thức trà thả hồn vào bầu không khí thanh tao, ngắm hoa, tuyết, nguyệt.
nghe tiếng nước reo trong ấm hòa với tiếng suối chảy, cảm thấy tâm hồn thanh thản, an nhiên. Theo thiền sư Trạch Am: Trà đạo ca tụng tinh thần hòa điệu tự nhiên giữa Trời và Đất, thấy sự hiện hữu trùm khắp của năm uẩn qua bếp lửa của chính mình, nơi mà núi sông, cây và đá như đang là giữa lòng thiên nhiên, múc nước từ giếng thiên nhiên ban cho. Tận hưởng giao cảm hòa điệu giữa Trời và Đất, ôi cao quý biết dường nào [54; 450]. Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) ở Nhật Bản trở thành “đạo” gọi là hoa đạo - một trong những biểu tượng của mỹ học Thiền.
Nghệ thuật Ikebana đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ nhằm tạo ra sự “hài hòa của các đường nét, nhịp điệu và màu sắc” [61; 60]. Cấu trúc tổng thể của một bình hoa phải dựa vào ba nét chính tượng trưng cho Thiên - Địa - Nhân. Nghệ thuật cắm hoa có từ lâu đời (khoảng thế kỷ VI) nhưng khi trà đạo phát triển thì hoa đạo cũng ra đời. Trong buổi lễ trà đạo ở trà thất không thể thiếu một bình hoa.