CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và hoạt động tài chính của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc Hội ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014, Doanh nghiệp được hiểu là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2014 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi.
Trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp thành lập công ty và hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm, quy mô hoạt động… người ta có thể phân chia doanh nghiệp thành nhiều loại hình khác nhau [12]: Căn cứ vào hình thức pháp lý, doanh nghiệp được chia thành 4 loại hình Loại hình doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ có quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Chủ doanh nghiệp là người đại diện trước pháp luật và có toàn quyền quyết định với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Loại hình doanh nghiệp Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung. Thành viên hợp doanh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 5 nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp, có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty, không tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.
Loại hình doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Theo luật doanh nghiệp 2015, doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm loại hình công ty TNHH có 2 thành viên trở lên và công ty TNHH 1 thành viên. Đối với doanh nghiệp TNHH có 2 thành viên trở lên, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau hoặc không bằng nhau, các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty.
Công ty TNHH 1 thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phần để huy động vốn trong kinh doanh. Loại hình doanh nghiệp Công ty Cổ phần: Là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần do các cổ đông sở hữu. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Cổ đông có thể là cá nhân, tổ chức, các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho các thành viên hay cá nhân khác. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn. Căn cứ vào chế độ trách nhiệm, doanh nghiệp được chia thành: Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 6 là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp.
Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP. Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: Là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó. Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có ê Căn cứ vào quy mô doanh nghiệp có thể chia thành: Doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp có quy mô vừa và doanh nghiệp quy mô nhỏ. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp có thể chia thành: Doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp lâm nghiệp, doanh nghiệp ngư nghiệp… 1.2 Hoạt động tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là một trong những nội dung rất cơ bản của hoạt động kinh doanh nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.
Hay nói một cách khác, tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [7, tr. Tài chính doanh nghiệp chịu sự chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động kinh doanh, do đó được xem là công cụ có vai trò quan trọng trong việc quản lý kinh doanh, được thể hiện ở các mặt như: đảm bảo vốn cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh, kiểm soát tình hình kinh doanh. Vai trò của hoạt động tài chính doanh nghiệp được biểu hiện qua các mặt sau: Tài chính doanh nghiệp tổ chức huy động và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả. Đối với doanh nghiệp, vốn là yêu tố vật chất cần thiết nhất cho sự tồn tại và phát triển.
Do đó vấn đề tổ chức huy động và phân phối sử dụng Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 7 sao cho có hiệu quả trở thành nhiệm vụ rất quan trọng với công tác quản lý tài chính doanh nghiệp.Tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn được thể hiện qua hai khía cạnh kinh tế và xã hội. Về mặt kinh tế, lợi nhuận gia tăng, vốn doanh nghiệp không ngừng được bảo toàn và phát triển. Về mặt xã hội, các doanh nghiệp không chỉ làm tròn nghĩa vụ của mình với Nhà nước mà còn không ngừng nâng cao mức thu nhập cho người lao động, cải thiện môi trường và điều kiện làm việc. Tài chính doanh nghiệp tạo lập các đòn bẩy kinh tế kích thích điều tiết các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.
Sử dụng các công cụ tài chính, nhà quản lý nắm bắt được từng thời điểm, quyết định tăng năng suất, tăng giảm giá bán, kích thích tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất…tăng vòng quay vốn, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là công cụ kiểm tra đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với mục tiêu sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn vốn, nhà đầu tư luôn kỳ vọng đồng vốn bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất, hoạt động tài chính giúp nhà đầu tư kiểm tra được thường xuyên và liên tục tính hiệu quả này thông qua việc phân tích các chỉ tiêu tài chính: các chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu về khả năng sinh lời…Việc phân tích thường xuyên các chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp nắm bắt tình hình tài chính một cách đầy đủ và nhanh chóng, kịp thời đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện và định hướng tình hình tài chính doanh nghiệp.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước, quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính, quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp [6, tr.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ để thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp [6, tr. Phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản: đánh giá khái quát tình hình tài chính; phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh; phân tích tình hình và khả năng thanh toán; phân tích năng lực hoạt động; phân tích khả năng sinh lời và tăng trưởng; phân tích rủi ro tài chính; phân tích giá trị và dự báo nhu cầu tài chính.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp được hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.