MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài Ngành nhựa là một ngành công nghiệp non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác nhƣ cơ khí, điện – điện tử, hóa chất, dệt may… nhƣng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong 5 năm gần đây, ngành nhựa là một trong những ngành công nghiệp có sự tăng trƣởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% - 18%, chỉ sau ngành viễn thông và dệt may, và có những mặt hàng tốc độ tăng trƣởng gần 100%. Điều đó xuất phát từ ngành nhựa Việt Nam mới ở bƣớc đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa đƣợc sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa, sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.
Nhu cầu tiêu thụ nhựa gia tăng, chỉ số tiêu thụ chất dẻo bình quân đầu ngƣời của Việt Nam năm 2015 đã vƣợt mức trung bình trên thế giới. Tính tới năm 2015, ngành Nhựa Việt Nam có giá trị ƣớc đạt 9 tỷ USD, với 4 nhóm ngành chính: Nhựa bao bì (39%), Nhựa gia dụng (32%), Nhựa xây dựng (14%) và Nhựa kỹ thuật (9%). Hiện nay trong cả nƣớc có khoảng 2.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành nhựa, tập trung chủ yếu tại miền nam (chiếm 84% tổng số doanh nghiệp toàn quốc), chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và thuộc hai nhóm ngành nhựa bao bì và nhựa gia dụng. Trong các năm gần đây, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhựa đều ở mức ấn tƣợng, điều này đến từ việc giá hạt nhựa giảm giúp cải thiện biên lợi nhuận gộp cho các doanh nghiệp nhựa nội địa và cùng với doanh thu và lợi nhuận tốt, cổ phiếu ngành nhựa cũng có sự bứt phá mạnh mẽ.
Tuy nhiên, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp lại có mức tăng trƣởng thấp hơn so với mức tăng trƣởng doanh thu và có dấu hiệu suy giảm. Các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách thức nhƣ mức thuế xuất khẩu hạt nhựa PP, quy mô doanh nghiệp kinh doanh nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, thô sơ, rủi ro về biến động giá cả nguyên liệu, chi phí vốn đầu tƣ, cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập… Từ đầu năm 2016 đến nay, các thƣơng vụ mua lại và sáp nhập (M&A) diễn ra khá sôi động trong ngành nhựa tại Việt Nam từ các nhà đầu tƣ chính là Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc với mục tiêu thâu tóm rất rõ (Luan.minh Luan van (Luan.minh 2 ràng: các công ty nhựa đầu ngành chiếm phần lớn doanh số toàn ngành. Các doanh nghiệp ngoại đang từng bƣớc chiếm lĩnh thị phần tại Việt Nam, dẫn đến sản phẩm nhựa của doanh nghiệp sản xuất trong nƣớc đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp trong ngành nhựa gặp phải rủi ro vay nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn dùng để tài trợ cho vốn lƣu động bao gồm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, đầu tƣ máy móc.
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành nhựa nói riêng phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, phát huy tối đa sức mạnh và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải hiểu rõ tình hình tài chính của mình và từ đó có sự điều chỉnh việc kinh doanh cho phù hợp bởi tài chính luôn gắn liền với sự tồn tại của doanh nghiệp. Việc phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tƣ đánh giá đƣợc tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ những rủi ro và triển vọng của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp quản lý tài chính tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp đó nâng cao năng lực tài chính và hiệu quả kinh doanh, giảm bớt các chi phí sản xuất và tạo ƣu thế cạnh tranh trên thế trƣờng.
Xuất phát từ thực trạng trên, và sự cần thiết phải tìm hiểu tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhựa, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phân tích tài chính của các doanh nghiệp ngành nhựa trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tài chính, phân tích tài chính trong các doanh nghiệp. Các đề tài trƣớc đây đã khái quát cơ sở lý luận về phƣơng pháp và nội dung phân tích tài chính, và áp dụng cơ sở lý luận đó vào tình hình doanh nghiệp cụ thể. Tác giả đã học hỏi và rút kinh nghiệm từ các công trình nghiên cứu trƣớc, có thể khái quát một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: Thứ nhất, nghiên cứu về phân tích tài chính doanh nghiệp Luận văn thạc sỹ với đề tài “Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần Vinaconex25” (2011) của tác giả Bùi Văn Lâm đã khái quát hóa những vấn đề lý (Luan.minh Luan van (Luan.minh 3 luận về phân tích báo cáo tài chính, tiến hành phân tích và đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Vinaconex 25.
Tuy nhiên, luận văn bị giới hạn bởi những hạn chế đã trình bày ở trên, luận văn nhằm phục vụ quản trị kinh doanh nghiệp, hƣớng tới hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu để đánh giá, phân tích doanh nghiệp tốt hơn, chƣa hƣớng tới phục vụ những đối tƣợng liên quan khác. Luận văn thạc sỹ với đề tài “Phân tích báo cáo tài chính của công ty cổ phần dầu khí quốc tế PS (2016) của tác giả Vũ Thị Hoa đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp, thực hiện phân tích báo cáo tài chính, so sánh với các công ty tiêu biểu trong ngành, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại công ty Cổ phần Dầu khí Quốc tế PS. Tuy nhiên đề tài cũng bị hạn chế, nhằm mục đích phục vụ cho ngƣời quản trị doanh nghiệp, chƣa hƣớng tới đối tƣợng liên quan khác, chƣa có phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2014) với đề tài “Phân tích và định giá cổ phiếu ngành nông nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” đã ứng dụng các mô hình định giá vào thị trƣờng chứng khoán Việt Nam cụ thể là nhóm cổ phiếu ngành nông nghiệp giai đoạn từ năm 2010 đến 2013, từ đó tìm ra những khó khăn, hạn chế còn tồn tại nhằm đƣa ra những giải pháp để giúp hoạt động phân tích và định giá có hiệu quả, đem lại lợi ích công bằng cho các nhà đầu tƣ riêng lẻ.
Đề tài tập trung đi sâu vào định giá ngành nông nghiệp, việc phân tích ngành dựa trên các yêu tố vĩ mô theo mô hình PESTEL, và theo mô hình năm lực lƣợng cạnh tranh của Michael Porter mà chƣa đi sâu vào phân tích tài chính của các doanh nghiệp nông nghiệp, cũng nhƣ các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Luận án tiến sỹ với đề tài “Giải pháp tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp trong ngành thép ở Việt Nam” (2016) của tác giả Đặng Phƣơng Mai đã hệ thống hóa những vấn đề chung về cấu trúc tài chính, tái cấu trúc của doanh nghiệp.minh Luan van (Luan.minh 4 nghiên cứu thực trạng, chỉ ra những đặc trƣng và hạn chế tồn tại trong cấu trúc tài chính các doanh nghiệp trong ngành thép ở Việt Nam. Đồng thời luận án cũng đánh giá các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính, mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành thép và đề xuất các giải pháp trực tiếp và tạo tiền đề để tái cấu trúc tài chính cho các doanh nghiệp trong ngành thép, đƣa ra giải pháp cụ thể cho Tổng công ty Thép Việt Nam. Đề tài có ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp trong ngành thép và có chiến lƣợc tái cấu trúc tài chính phù hợp đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, gia tăng giá trị cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong việc xây dựng mô hình kiểm định tác động của các nhân tố bên trong doanh nghiệp đến cấu trúc tài chính, luận án mới chỉ đƣa vào các nhân tố bên trong doanh nghiệp, đó là: Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, khả năng tăng trƣởng, cơ cấu tài sản, khả năng thanh toán, lợi ích lá chắn thuế từ khấu hao mà chƣa đƣa các nhân tố vĩ mô bên ngoài doanh nghiệp vào trong mô hình. Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” (2015) của tác giả Hồ Thị Ngọc Thủy đã hệ thống lại các cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính, hiệu quả tài chính và sự tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính. Đề tài cũng xây dựng đƣợc mô hình chứng minh sự tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, lựa chọn 6 nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu của đề tài lựa chọn là phạm vi 72 doanh nghiệp trong ngành xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, số liệu phân tích chỉ giới hạn trong giai đoạn 2009 – 2014 nên kết quả có thể chƣa thực sự phản ánh chính xác cho phạm vi tổng thể.
Số liệu phân tích đƣợc thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nên chủ yếu là phản ánh trên số liệu sổ sách, chƣa xét đến giá trị thị trƣờng. Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Lê Thanh Tuyền đã xây (Luan.minh Luan van (Luan.minh 5 dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động trong kinh doanh và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm. Số liệu thu thập từ báo cáo tài chính đã đƣợc kiểm toán của 45 công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam năm 2010 – 2012 và các số liệu thống kê ngành.