Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Công ty cổ phần và tài chính công ty cổ phần 1. Công ty cổ phần và đặc điểm công ty cổ phần 1. Doanh nghiệp Theo khoản 7, điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [14].
Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: doanh nghiệp tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), công ty cổ phần. Công ty cổ phần Theo điều 110 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật doanh nghiệp. Công ty cổ phần có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.
Đăc điểm công ty cổ phần Về thành viên (cổ đông): Đặc điểm về cổ đông của công ty cổ phần là hệ quả đặc điểm về cấu trúc vốn. Với căn cứ xác lập tƣ cách cổ đông là quyền sở hữu cổ phần, trong khi cổ phần có thể đƣợc chào bán cho rộng rãi các đối tƣợng khác nhau, 7 cổ đông của công ty này thƣờng rất lớn về số lƣợng và không quen biết nhau. Luật Doanh nghiệp chỉ hạn định số lƣợng tối thiểu mà không giới hạn số lƣợng tối đa các cổ đông của công ty cổ phần, theo đó công ty này phải có ít nhất 3 cổ đông trong suốt quá trình hoạt động. Về cấu trúc vốn: Công ty cổ phần có cấu trúc vốn “mở”.
Đặc điểm về cấu trúc vốn của công ty cổ phần thể hiện trƣớc hết ở vốn điều lệ của công ty. Vốn điều lệ của công ty phải đƣợc chia thành những phần nhỏ nhất bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá (giá trị danh nghĩa) của cổ phần và có thể đƣợc phản ánh trong cổ phiếu. Tƣ cách cổ đông của công ty đƣợc xác định dựa trên căn cứ quyền sở hữu cổ phần.
Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần trừ một số trƣờng hợp bị Pháp luật cấm chuyển nhƣợng hoặc hạn chế chuyển nhƣợng. Mức độ tự do chuyển nhƣợng cổ phần phụ thuộc vào tính chất của từng loại cổ phần. Với tính tự do chuyển nhƣợng cổ phần, cơ cấu cổ đông của công ty có thể thay đổi linh hoạt mà không ảnh hƣởng đến sự tồn tại cũng nhƣ bản chất của công ty. Về huy động vốn: Đặc điểm về cấu trúc vốn của công ty cổ phần còn thể hiện ở khả năng huy động vốn bằng phát hành chứng khoán.
Công ty có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ hoặc phát hành trái phiếu để tăng vốn vay (vốn tín dụng) theo quy định của Pháp luật. Về chế độ trách nhiệm tài sản: Công ty phải tự chịu trách nhiệm một cách độc lập về các nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản của công ty. Cổ đông không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty ngoài phạm vi giá trị cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Tuy nhiên, chế độ TNHH mà cổ đông đƣợc hƣởng cũng kèm theo những ràng buộc nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của ngƣời thứ ba.
Theo Luật Doanh nghiệp, khi công ty thanh toán cổ phần mua lại hoặc trả cổ tức trái quy định thì tất cả cổ đông phải hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã nhận cho công ty. Nếu cổ đông không hoàn trả đƣợc thì cổ đông phải chịu trách nhiệm về nợ của công ty. 8 Về tư cách pháp lý: Công ty cổ phần là chủ thể kinh doanh có tƣ cách pháp nhân. Theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Quản lý tài chính công ty cổ phần 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là một mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lƣợng tiền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết và quan trọng. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tƣ cũng nhƣ mọi hoạt động khác của doanh nghiệp. Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền tệ đến và ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra dƣới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp và môi trƣờng xung quanh, nó phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất đối với mỗi doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp nếu đƣợc duy trì và phát triển một cách ổn định thì sẽ tạo tiền đề và nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động khác của doanh nghiệp vận động và phát triển. Hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu nhƣ huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng nhƣ phân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả. Hoạt động tài chính của công ty cổ phần Tài chính công ty cổ phần mang đầy đủ những đặc điểm của tài chính doanh nghiệp, đồng thời cũng mang trong mình những đặc trƣng riêng. Công ty cổ phần vì có những nét riêng về đặc điểm của công ty nên vấn đề tài chính của công ty cổ phần cũng mang những nét đặc trƣng.
Nếu nhƣ nói ngắn gọn thì tài chính của công ty cổ phần bao gồm vốn và tài sản của công ty cổ phần (hay nói cách khác nhìn dƣới góc độ tài chính là các quỹ tiền tệ đƣợc thể hiện dƣới dạng vốn và tài sản khác) [30] Bao quanh công ty là một môi trƣờng kinh tế - xã hội phức tạp và các hoạt động Tài chính diễn ra một cách nhịp nhàng. Các hoạt động này hỗ trợ cho nhau, thúc đẩy nhau giúp cho cả bộ máy công ty đƣợc vận hành một cách tốt nhất. Các hoạt động đó bao gồm: huy động các nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tƣ và sử dụng vốn nhƣ thế nào cho có hiệu quả, phân phối kết quả kinh doanh nhƣ thế nào. Các hoạt động này chỉ đƣợc thực hiện có hiệu quả khi nhà quản lý nắm bắt đƣợc thực trạng Tài chính của doanh nghiệp để từ đó có thể xem xét, kiểm tra, đối chiếu, và so sánh với số liệu quá khứ, thông qua đó đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, những rủi ro tƣơng lai và triển vọng phát triển của công ty, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời để điều chỉnh các hoạt động trong công ty.
Nhƣng để nắm bắt đƣợc thực trạng Tài chính công ty, không có cách nào khác là phải nghiên cứu sâu các báo cáo Tài chính và tiến hành công tác phân tích Tài chính thật tỉ mỉ, khoa học. Khái niệm quản lý tài chính Quản lý Tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động Tài chính của doanh nghiệp. Nó đƣợc thực hiện thông qua một cơ chế, đó là cơ chế quản lý Tài chính doanh nghiệp. Cơ chế quản lý Tài chính doanh nghiệp đƣợc hiểu là một tổng thể các phƣơng pháp, các hình thức và công cụ đƣợc vận dụng để quản lý các hoạt động Tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định.
10 Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý Tài chính doanh nghiệp bao gồm: cơ chế quản lý tài sản, cơ chế huy động vốn, cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, cơ chế kiểm soát Tài chính của doanh nghiệp. Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần đƣợc quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của ngƣời làm công, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ. Đó là nhóm ngƣời có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp. Giải quyết vấn đề này liên quan tới các quyết định đối với bộ phận trong doanh nghiệp và các quyết định giữa doanh nghiệp với các đối tác ngoài doanh nghiệp.
Đối với nhà quản lý Tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lƣu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của ngƣời ngoài doanh nghiệp nhƣ cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhà nƣớc. Do quản lý Tài chính có thể đƣợc nhìn nhận trên giác độ của nhà quản lý bên ngoài đối với doanh nghiệp và trên giác độ của nhà quản lý trong doanh nghiệp nên có hai cách tiếp cận về cơ chế quản lý Tài chính doanh nghiệp: cơ chế quản lý Tài chính đối với doanh nghiệp và cơ chế quản lý Tài chính trong doanh nghiệp. Quản lý Tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp. Quản lý Tài chính tốt có thể khắc phục đƣợc những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác.
Một quyết định Tài chính không đƣợc cân nhắc, hoạch định kỹ lƣỡng có thể gây nên tổn thất cho doanh nghiệp. Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trƣờng nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì vậy, quản lý Tài chính doanh nghiệp tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Tài chính quốc gia.