CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Cơ sở lý thuyết về tăng trường kinh tế và các mô hình tăng trưởng kinh tế 1.1 Lý thuyết cổ điển Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế bao gồm các nhà kinh tế tiêu biểu: Adam Smith, R.Malthus, David Ricardo. Adam Smith Ông cho rằng tích lũy vốn và cả tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố xã hội, thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một nước. Trong học thuyết về “Giá trị lao động”, Adam Smith (1776) cho rằng: Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là lao động, vốn và đất đai.Trong đó, lao động (không phải đất đai, tiền bạc) được coi là nguồn gốctạo ra mọi của cải, là nguồn cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Phát hiện quan trọng củaAdam Smithvề phân công laođộng và chuyên môn hoá lao động là cơ sở để tăng năng suất lao động và tăng sản lượng.
Tăng sản lượng thông qua việc tăng số lượng đầu vào tương ứng – gia tăng tư bản theo chiều rộng. Tuy nhiên vì đất đai là có hạn nên đến một lúc nào đó sản lượng đầu ra sẽ tăng chậm dần Hình 1.1: Mô hình tăng trưởng kinh tế của Adam Smith (Nguồn: Giáo trình bài giảng tăng trưởng kinh tế) 6 R.Malthus Ông cho rằng áp lực dân số sẽ đẩy nền kinh tế tới một điểm mà tại đó người lao động chỉ còn sống ở mức vừa đủ tối thiểu. Cứ khi nào mức tiền lương còn ở trên mức vừa đủ→dân số sẽ tăng lên→cung lao động gia tăng sẽ đẩy mức tiền lương xuống thấp→tiền lương xuống dưới mức vừa đủ sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn và dân số sẽ giảm đi→cung lao động giảm đi đẩy mức tiền lương lên. Dân số tăng theo cấp số nhân, còn lương thực tăng theo cấp số cộng (do sự hữu hạn của đất đai).
Muốn duy trì tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân số. David Ricardo David Ricácđô (1772 - 1823) được coi là tác giả cổ điển xuất sắc nhất. Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển, tân cổ điển và trào lưu kinh tế hiện đại đều có nguồn gốc tinh thần từ các tư tưởng của D. Trong cuốn sách nổi tiếng “Các nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khoá”, D.
Ricacđo đã trình bày những quan điểm của ông về phát triển kinh tế, đó là: Lập luận về các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và quan hệ giữa chúng; Phân chia các nhóm người trong xã hội và thu nhập của những nhóm người này; Quan hệ cung - cầu và vai trò hạn chế của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Trong lập luận về các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và quan hệgiữa chúng, D. Ricacđo cũng coi đất đai, lao động và vốn là những yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Nhưng theo ông, yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế là đất đai, đất đai chính là giới hạn của tăng trưởng.
Ông lập luận: Tăng trưởng là kết quả của tích luỹ, tích luỹ là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào nông nghiệp và đất đai. Tóm lại, các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith, R.Malthus và David Ricardo nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của nguồn lực tự nhiên trong tăng trưởng kinh tế.2 Lý thuyết trường phái Keynes, mô hình Harrod-Domar J. Keynes với cuốn sách “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936) được coi là người tạo ra đột phá lớn trong lịch sử kinh tế học Lý thuyết của Keynes cũng được coi là cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết tăng trưởng hiện đại. Theo Keynes, có thể đạt tới và duy trì sự cân bằng ởmột mức sản lượng nào đó, không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường ở dưới mức sản lượng tiềm năng, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người.
Lý thuyết trọng cầu của Keynes lần đầu tiên khẳng định rằng: Chính nhu cầu (cầu đầu tư và cầu tiêu dùng), chứ không phải cung, là nhân tố quan trọng quyết định sản lượng, và do đó quyết định tăng trưởng. Lần đầu tiên, Keynes đã nêu bật vai trò của chính phủ, thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô (chính sách tài chính và tiền tệ) đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đối lập với trường phái cổ điển cho rằng nền kinh tế có thể tự vận động để xác lập những cân đối mới, Keynes đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của chính phủ trong điều tiết nền kinh tế. Cũng từ đó, lần đầu tiên, vai trò của khu vực nhà nước trong nền kinh tế được coi trọng.
Dựa trên phương pháp luận của Keynes, vào những năm 1940, hai nhà kinh tế học Harrod và Domar đã đưa ra mô hình tăng trưởng kinh tế như sau: Ta có St = It (tiết kiệm luôn bằng đầu tư) It = ∆K (đầu tư năm t bằng lượng tư bản hiện vật gia tăng trong năm t). Tốc độ tăng trưởng: Δ IΔ I I = = = : Y IY Y Δ Vì It = St nên It/Yt = St/Yt Nếu gọi St/Yt = s tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế 8 It/∆Y = ∆K/∆Y = k là tỷ số gia tăng giữa vốn-đầu ra (hệ số ICOR_incremental capital-output ratio) Ta sẽ có g = s/k Hệ số ICOR cho biết để tăng thêm 1 đồng sản lượng cần đầu tư thêm bao nhiêu đồng vốn Mô hình Harrod Domar cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với k vì k thường cố định trong một thời kỳ, để điều chỉnh g chúng ta chỉ cần điều chỉnh s, sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tương lai. Như vậy lý thuyết trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của tư bản/vốn (K) đối với tăng trưởng kinh tế, mô hình đã bỏ qua các yếu tố quan trọng như khấu hao, tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, trên thực tế thì tăng trưởng kinh tế vẫn có thể xảy ra trong trường hợp không tăng đầu tư.
Kể cả trong trường hợp đầu tư có hiệu quả thì sự gia tăng đầu tư hay tiết kiệm cũng chỉ có thể cho phép đạt đến sự gia tăng tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn, chứ không thể đạt được trong dài hạn. Mô hình này,vì vậy, có ý nghĩa cho tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn hơn là trong dài hạn.3 Lý thuyết tân cổ điển Mô hình Solow – Swan (mô hình Solow) Do những nhược điểm của mô hình Harrod-Domar, dựa trên những tư tưởng của lý thuyết tân cổ điển, năm 1924, Solow đã xây dựng nên mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow. Nếu như mô hình của Harrod-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ vào phương trình tăng trưởng và ông cũng khẳng định rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố quyết định đến tăng trưởng, cả ngắn hạn và dài hạn. Mô hình này cho biết: tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian.
9 Hàm sản xuất: Y = f (K, L) Giả sử hiệu suất của nền kinh tế không đổi theo quy mô nên. Trong đó y=Y/L là sản lượng trên một công nhân; k=K/L là lượng tư bản trang bị cho một công nhân. Hàm sản xuất dốc lên từ trái sang phải: y và k có mối quan hệ đồng biến (dương) nghĩa là k tăng-gia tăng tư bản theo chiều sâu thì y tăng. Độ dốc của hàm sản xuất giảm dần: k tăng thì y tăng nhưng tốc độ tăng chậm dần và đến một lúc nào đó k tăng y sẽ không tăng nữa (điểm dừng của nền kinh tế).
Vì mọi nguồn lực đều khan hiếm nên các đơn vị nguồn lực thêm vào sau có chi phí cơ hội tăng dần, nghĩa là năng suất của các nguồn lực này giảm so với các đơn vị ban đầu. Với một yếu tố ban đầu không đổi, càng nhiều nguồn lực tăng thêm sử dụng yếu tố này đến một lúc nào đó sẽ dẫn tới tình trạng sử dụng chồng chéo, phi hiệu quả. Như vậy, lý thuyết tân cổ điển nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng.2: Mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển (Nguồn: Giáo trình bài giảng tăng trưởng kinh tế) Hình 1.3 (Nguồn: Giáo trình bài giảng tăng trưởng kinh tế) Điểm đột phá nhất của mô hình tăng trưởng của Solow là đã giảm sự cứng nhắc của mô hình Harrod-Domar bằng cách sử dụng hàm sản xuất có năng suất giảm dần của các nhân tố sản xuất, trong đó giả định tiền công và hệ số giữa vốn và sản lượng là có thể điều chỉnh, thay vì bất biến như ở mô hình Harrod-Domar. Nhờ đó, nền kinh tế có thể điều chỉnh để tiến tới trạng thái cân bằng và trạng thái này là ổn định.4 Lý thuyết hiện đại Dựa vào lý thuyết của Keyns, sau một thời gian dài áp dụng lý thuyết này, các nước có xu hướng quá nhấn mạnh vai trò của chính sách kinh tế, do đó hạn chế mức độ tự điều chỉnh của thị trường và xuất hiện những trở ngại mới cho quá trình tăng trưởng.
Từ đó trường phái kinh tế hiện tại ra đời. Thực chất của trường phái này là sự xích lại gần nhau của trường phái tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes - đại diện là P. Samuelson với tác phẩm “Kinh tế học”, 1970. Nếu các nhà kinh tế học của phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với lý thuyết “Bàn tay vô hình”, trường phái Keynes cổ vũ cho học thuyết “Bàn tay nhà nước”, thì Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay”, đó là thị trường và nhà nước.
Ông cho rằng: “Điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay”. Lý thuyết kinh tế hiện đại có một số điểm mới so với các học thuyết tăng trưởng kinh tế trước đó. Theo Samuelson, ngoài các yếu tố vật chất như vốn, đất đai, lao động, tài nguyên trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế, yếu tố tiến bộ công nghệ ngày càng trở nên quyết định đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết hiện đại cũng xác định rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất.