CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 quy định Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong hoạt động cấp tín dụng, nghiệp vụ cho vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động tín dụng (chiếm đến hơn 80%), vì vậy phạm vi của đề tài chỉ phân tích rủi ro tín dụng liên quan đến hoạt động cho vay, ngoài ra, rủi ro cho vay mang đầy đủ tính chất của rủi ro tín dụng nên để tránh hiểu nhầm trong xuyên suốt nội dung của đề tài, việc nhắc tới rủi ro tín dụng cũng có nghĩa là rủi ro cho vay và ngược lại. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 quy định về việc phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng định nghĩa Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo Ủy ban Basel, rủi ro tín dụng là những rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả năng hoặc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi các nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng.
Theo Cục quản lý tiền tệ Hong kong (Hong Kong Monetary Authority,“Risk based supervisory aproach“, Supervisory Manual) định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro mà người vay hoặc đối tác có thể không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Bielecki, Marek Rutkowski, (Credit risk: Modeling, Valuation and Hedging (2002), PP 3): rủi ro vỡ nợ là là khả năng mà một bên trong hợp đồng tín 2 dụng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng những cam kết đã quy định trong hợp đồng. Nói chung, rủi ro tín dụng có nghĩa là các rủi ro có liên quan đến các sự kiện tín dụng như là về chất lượng tín dụng (bao gồm việc tăng hoặc giảm nhóm trong xếp hạng tín dụng), sự thay đổi của chênh lệch lợi suất tín dụng (là mức chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu chính phủ Mỹ với khoản nợ có đảm bảo khác có cùng kỳ hạn nhưng chất lượng kém hơn) và các sự kiện vỡ nợ. Theo Ken Brown và Peter Moles (“Credit risk management”, (2014),PP16) rủi ro tín dụng là khả năng một bên tham gia hợp đồng tín dụng sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Nhìn chung, có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, tuy nhiên có thể rút ra cách hiểu cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là sự không chắc chắn về khả năng xảy ra tổn thất do bên có nghĩa vụ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng Dựa trên Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Tú năm 2012 về “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam” và Ken Brown và Peter Moles (“Credit risk management”, (2014), có thể rút ra kết luận về đặc điểm của rủi ro tín dụng như sau: ❖ RRTD luôn tồn tại: Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, rủi ro tín dụng luôn thường trực, không thể loại trừ khả năng xảy ra rủi ro song luôn có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu để có thể ngăn ngừa, hạn chế rủi ro. ❖ RRTD có tính chất đa dạng, phức tạp: tính đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng như nguyên nhân từ môi trường kinh tế, từ bản thân khách hàng, từ ngân hàng,.3 Phân loại rủi ro tín dụng Dựa trên Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Tú năm 2012 về “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam” và Ken Brown và Peter Moles (“Credit risk management”, (2014), có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu, thông thường có những cách phân loại như sau: 3 ❖ Theo nguồn gốc hình thành, RRTD được chia thành 3 loại: − Rủi ro từ phía người cho vay: là những rủi ro từ chính sách của ngân hàng, việc nghiên cứu, dự báo, theo dõi, xử lý RRTD, cán bộ tín dụng, công tác kiểm tra, kiểm soát. − Rủi ro từ phía người vay: Đây là loại rủi ro chủ yếu trong các loại RRTD, ví dụ: rủi ro vì khách hàng suy giảm khả năng trả nợ, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. − Rủi ro từ các nhân tố bên ngoài khác: Đó là các rủi ro liên quan tới các khâu quản lý của NHNN; chế độ chính sách; môi trường, các biến động bất thường trong nền kinh tế… ❖ Theo tính khách quan và chủ quan thì RRTD được phân thành: − Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như do môi trường kinh tế, chính trị xã hội, thiên tai, ốm đau bênh tật ảnh hưởng đến người đi vay làm thất thoát vốn vay.
− Rủi ro chủ quan là rủi ro do nguyên nhân thuộc về phía người vay hoặc ngân hàng như cố tình gian lận, sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến mất khả năng trả nợ hoặc do ngân hàng không quản lý chặt chẽ dẫn đến cho vay không hợp lý.4 Nguyên nhân gây ra RRTD Dựa trên Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Tú năm 2012 về “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam” và Ken Brown và Peter Moles (“Credit risk management”, (2014), nguyên nhân dẫn tới RRTD cho các ngân hàng gồm có nguyên nhân từ phía bên ngoài và bên trong ngân hàng. Việc nghiên cứu các nguyên nhân gây nên RRTD có ý nghĩa rất quan trọng giúp các ngân hàng đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn rủi ro xảy ra cho hoạt động kinh doanh của mình.1 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng. Cụ thể: ❖ Môi trường pháp lý: 4 Môi trường pháp lý có ảnh hưởng quan trọng đến RRTD của ngân hàng. Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả.
Nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, người phải trả tiền không trả được, đồng thời kéo theo những người khác bị vỡ nợ và không trả được nợ cho ngân hàng. Chính vì vậy, nhân tố pháp lý có vị trí rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nhân tố pháp lý còn thể hiện qua các quy định của Nhà nước về hoạt động ngân hàng nói chung và các quy định về đảm bảo an toàn tín dụng nói riêng. Các quy định phù hợp sẽ tạo điều kiện phát triển hoạt động của các ngân hàng an toàn nhưng nếu các quy định không phù hợp sẽ dẫn đến sự kìm hãm phát triển, bao gồm cả việc ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động của các ngân hàng.
❖ Môi trường chính trị Tình hình chính trị xã hội không ổn định thì không chỉ riêng các khách hàng mà cả các ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào công việc, đầu tư, mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng. Hơn nữa, sự bất ổn về chính trị xã hội sẽ dẫn đến sự mất lòng tin của dân chúng cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước dẫn đến suy thoái kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng. ❖ Môi trường tự nhiên Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ ngoài tầm kiểm soát của con người.
Vì vậy, khi có thiên tai, dịch hoạ xảy ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu … đồng nghĩa với các ngân hàng khi cho vay phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình. ❖ Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa, cụ thể: 5 Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Ví dụ: khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng thì hoạt động tín dụng gặp khó khăn và rủi ro cao.
Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển với tốc độ thấp, biểu hiện tính suy thoái, sản xuất kinh doanh của các khách hàng bị thu hẹp, không hiệu quả và gặp nhiều khó khăn, nhiều khách hàng bị thua lỗ và bị phá sản. Do đó, nếu ngân hàng lúc này vẫn tiếp tục tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro, không thu được nợ sẽ tăng lên. Chính sách kinh tế của Chính phủ thông qua những quy định như về thuế, chính sách xuất nhập khẩu… sẽ gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bởi các chính sách này tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của khách hàng. Khi chính phủ có chính sách ưu đãi như giảm thuế, bảo hộ hàng sản xuất trong nước của một ngành nào, đưa ra chính sách giữ giá hay phá giá đồng nội tệ thì cũng gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
Nếu chính sách kinh tế thường xuyên thay đổi, khó dự đoán sẽ gây tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của các khách hàng và ngân hàng.