Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt (NTSH) đang diễn ra nghiêm trọng ở khắp nơi trên cả nước, đặc biệt là tại các thành phố lớn, các trung tâm thương mại, các khu vui chơi giải trí. Trong nước thải chứa hàm lượng lớn các chất nitơ (N), photpho (P) là nguyên nhân gây ra các hiện tượng phú dưỡng và độc tính khi thải ra môi trường. Do đó cần phải loại bỏ những chất này trong nước thải để làm giảm tác hại của chúng đến môi trường. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải tại các cơ sở cũng như các nhà máy xử lý nước thải đang đối mặt với vấn đề phải mở rộng quy mô do sự tăng lên đáng kể của lưu lượng nước thải và tải trọng chất ô nhiễm.
Tuy nhiên việc mở rộng quy mô rất khó khăn và có thể ảnh hưởng đến quy hoạch của các địa bàn dân cư, do đó, tính khả thi không cao. Các bước cải tiến kỹ thuật trong xử lý nước thải, cũng như ứng dụng các loại vật liệu mới xử lý môi trường giúp giải quyết được các nhược điểm của các phương pháp xử lý cũ, nâng cao chất lượng đầu ra và giảm chi phí quá trình vận hành hệ thống xử lý. Để tăng hiệu quả xử lý đối với các nguồn thải thì việc ứng dụng các thiết bị xử lý sinh học sử dụng giá thể vi sinh được coi là giải pháp và hướng đi phù hợp do chúng làm tăng được nồng độ vi sinh trong bể xử lý. Từ đó làm tăng hiệu quả xử lý trên cùng một thể tích và tiết kiệm được mặt bằng xây dựng của hệ thống.
Một trong những công nghệ mới hiện nay đang được nghiên cứu và áp dụng là công nghệ xử lý nước thải bằng giá thể lơ lửng tầng lưu động MBBR (Moving Bed BioReactor - MBBR). Đây là một dạng của quá trình xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính, kết hợp giữa các điều kiện thuận lợi của quá trình xử lý bùn hoạt tính và bể lọc sinh học. Trong quá trình MBBR, vi sinh vật (VSV) phát triển và bám dính trên giá thể chuyển động trong chất lỏng của bể xử lý. Ưu điểm của giải pháp này là hiệu suất xử lý cao và ổn định, thời gian lưu bùn lâu, lượng bùn cần xử lý ít, chi phí vận hành không cao do tốn ít năng lượng.
Việc sử dụng giá thể vi sinh có trọng lượng, hình dạng phù hợp, có khả năng chuyển động trong bể xử lý đã được nghiên cứu và ứng 2 dụng ở nhiều quốc gia có ngành công nghiệp môi trường phát triển. Ở nước ta hiện nay, việc sản xuất và ứng dụng các loại vật liệu đệm vi sinh này đối với các hệ thống xử lý nước thải như NTSH, nước thải bệnh viện,. đang dần trở nên khá phổ biến. Nhiều nghiên cứu ứng dụng đệm vi sinh tại các Viện nghiên cứu và các trường Đại học đã được triển khai.
Tuy nhiên, hầu hết các loại giá thể vi sinh đang được sử dụng tại Việt Nam khá đa dạng về chủng loại, chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan và của một số ít cơ sở sản xuất nhựa trong nước. Thực tế, khả năng dính bám của VSV trên các loại giá thể này còn hạn chế. Năm 2014, Trung tâm Công nghệ Vật liệu đã nghiên cứu chế tạo được sản phẩm giá thể đệm vi sinh từ nhựa PE bằng phương pháp ép phun và đưa vào hệ xử lý MBBR. Hiện nay, Trung tâm Công nghệ Vật liệu đang tiếp tục triển khai hoàn thiện quy trình công nghệ, nghiên cứu cải thiện tính chất bề mặt của giá thể vi sinh nhằm tăng hiệu quả hình thành lớp vi sinh bám dính; qua đó tăng hiệu quả xử lý nước thải.
Bên cạnh việc đánh giá các chỉ tiêu cơ - lý của giá thể vi sinh như độ bền uốn, độ bền kéo, độ bền va đập, độ cứng trên các thiết bị đo chuyên dụng, việc đánh giá hiệu quả xử lý nước thải theo các tiêu chí, chỉ tiêu ô nhiễm cũng rất quan trọng để có thể chứng minh được mức độ cải thiện của quá trình chế tạo. Trong quá trình phân tích hàm lượng các chất chứa P và N nảy sinh các vấn đề khi hàm lượng các chất trong nước thải đầu vào có hàm lượng lớn nhưng nhờ hiệu quả xử lí cao nên nước thải đầu ra hàm lượng các hợp chất chứa N và P có hàm lượng thấp hơn rất nhiều. Từ đó đặt ra vấn đề với cùng một phương pháp phân tích thì có đảm bảo kết quả phân tích cho độ chính xác cao không? Do vậy, chúng tôi đề xuất đề tài luận văn: “Phân tích hàm lượng photphat và một số hợp chất của nitơ trong hệ xử lý nước thải sử dụng giá thể vi sinh chuyển động (MBBR)”. Nội dung thử nghiệm và đánh giá hiệu quả sử dụng của giá thể vi sinh đã chế tạo được trong hệ xử lý nước thải ở quy mô phòng thí nghiệm là nghiên cứu có tính tiệm cận thực tế, tạo cơ sở chắc chắn và cung cấp dữ liệu tin cậy cho việc ứng dụng giá thể vi sinh ở quy mô lớn hơn.
Do vậy, việc hoàn thiện quy trình phân tích và đánh giá chính xác được sự thay đổi nồng độ của những thành phần chính cần xử lý trong nước thải là cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Phân tích hàm lượng photphat và một số hợp chất amoni, nitrat, nitrit trong mẫu nước thải giả lập, mẫu nước thải đầu vào và đầu ra của hệ thống xử lý nước thải bằng giá thể vi sinh chuyển động. Đánh giá được hiệu quả xử lý photphat và một số hợp chất của nitơ trong hệ xử lý nước thải sử dụng giá thể vi sinh chuyển động. Đối tượng nghiên cứu Hàm lượng photphat và một số hợp chất của nitơ trong mẫu nước thải của hệ xử lý nước thải sử dụng giá thể vi sinh chuyển động (MBBR).
Phạm vi nghiên cứu Đánh giá được hiệu quả xử lý photphat và một số hợp chất của nitơ trong hệ xử lý nước thải sử dụng giá thể vi sinh chuyển động. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả sử dụng của giá thể vi sinh đã chế tạo được trong hệ xử lý nước thải ở quy mô phòng thí nghiệm. Cung cấp dữ liệu tin cậy cho việc ứng dụng giá thể vi sinh ở quy mô lớn hơn. Hoàn thiện quy trình phân tích và đánh giá chính xác được sự thay đổi nồng độ của những thành phần chính cần xử lý trong nước thải.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ MBBR TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI 1. Sơ đồ và mô hình xử lý bằng công nghệ MBBR Hệ màng sinh học (biofilm) trong xử lý nước thải hiện nay đang là xu hướng gia tăng nhanh chóng bởi khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải với hiệu quả cao cũng như giảm thiểu các chi phí nhân công, giá thành. Công nghệ xử lý sinh học với giá thể lơ lửng MBBR là một dạng của quá trình xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính bởi lớp màng sinh học (biofilm).
Trong quá trình sử dụng MBBR, lớp màng biofilm phát triển trên giá thể lơ lửng trong lớp chất lỏng của bể phản ứng [1-2]. Sơ đồ nguyên lý hệ thống xử lý nước bằng công nghệ MBBR MBBR có thể được thiết kế cho các cơ sở mới để loại bỏ nhu cầu oxy sinh hóa/nhu cầu oxy hóa học (BOD/COD) hoặc loại bỏ nitơ, photpho từ các dòng nước thải. Hiện tại các nhà máy áp dụng công nghệ bùn hoạt tính có thể được nâng cấp để có thể khử nitơ và photpho hoặc BOD/COD ở lưu lượng lớn. Các vi khuẩn nuôi cấy tăng trưởng nhờ phân hủy các chất hữu cơ hòa tan, từng bước trưởng thành trong môi trường đó.
Công nghệ MBBR là công nghệ kết hợp giữa các điều kiện thuận lợi của quá trình xử lý bùn hoạt tính hiếu khí và bể lọc sinh học. Bể MBBR hoạt động giống như quá trình xử lý bùn hoạt tính hiếu khí trong toàn bộ thể tích bể. Đây 5 là quá trình xử lý bằng lớp màng biofilm với sinh khối phát triển trên giá mang mà những giá mang này lại di chuyển tự do trong bể phản ứng và được giữ bên trong bể phản ứng được đặt ở cửa ra của bể. Bể MBBR không cần quá trình tuần hoàn bùn giống như các phương pháp xử lý bằng màng biofilm khác, vì vậy nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý bằng phương pháp bùn hoạt tính trong bể, bởi vì sinh khối ngày càng được tạo ra trong quá trình xử lý.
Bể MBBR gồm 2 loại: bể hiếu khí và bể thiếu khí [2-5]. Bể hiếu khí Bể thiếu khí Hình 1. Mô hình công nghệ MBBR dạng hiếu khí và thiếu khí Trong bể hiếu khí sự chuyển động của các giá thể được tạo thành do sự khuếch tán của những bọt khí có kích thước trung bình từ máy thổi. Trong khí đó ở bể thiếu khí thì quá trình này được tạo ra bởi sự xáo trộn của các giá thể trong bể bằng cánh khuấy.
Hầu hết các bể MBBR được thiết kế ở dạng hiếu khí có lớp lưới chắn ở cửa ra, ngày nay người ta thường thiết kế lớp lưới chắn có dạng hình trụ đặt thẳng đứng hay nằm ngang. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xử lý bằng công nghệ MBBR 1. Giá thể Trong công nghệ MBBR các giá thể chuyển động cùng với lớp màng biofilm phát triển và bám trên bề mặt nhằm làm tăng sự tiếp xúc giữa VSV và nước thải, từ đó gia tăng sinh khối làm quá trình phân hủy sinh học diễn ra nhanh chóng với hiệu suất xử lý cao [1- 5]. Giá thể được thiết kế sao cho diện tích bề mặt hiệu dụng là lớn nhất để lớp màng biofim dính bám trên bề mặt của giá thể và tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động của VSV khi những giá thể 6 này lơ lửng trong nước.
Tất cả các vật liệu giá thể có tỷ trọng nhẹ hơn so với tỷ trọng của nước, tuy nhiên mỗi loại giá thể có tỷ trọng khác nhau. Giá thể có nhiều hình dạng khác nhau, thông thường các giá thể có hình trụ đứng, bên trong và bề mặt ngoài có nhiều khe để tăng diện tích bề mặt. Diện tích bề mặt tiếp xúc của các giá thể phổ biến nằm trong khoảng 120 – 950 m2/m3. Đối với công nghệ MBBR, việc giữ cố định sinh khối trên vật liệu đệm có ảnh hưởng lớn đến khả năng xử lý nước của hệ.