chương 1 này, chúng tôi tập trung vào những vấn đề cơ bản mang tính giới thuyết những vấn đề cơ bản về thể loại truyền kỳ và vị trí của truyền kỳ trong dòng chảy văn xuôi trung đại Việt Nam. Đồng thời tóm lược vài nét khái quát về tác giả Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục. Qua những vấn đề nghiên cứu này, một lần nữa đã khẳng định được vị trí của thể loại truyện truyền kỳ nói chung và Truyền kỳ mạn lục nói riêng trong dòng chảy văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam. Đặc biệt thông qua việc khảo sát, phân loại kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ sẽ giúp chúng tôi có những cơ sở vững chắc để đi vào làm rõ đặc điểm kiểu nhân vật chính diện trong tập truyện.
Đây là một đối tượng nghiên cứu quan trọng, tích cực góp phần khẳng định vai trò, vị trí của tác phẩm được mệnh danh là “thiên cổ kỳ bút” này của văn học Việt Nam. Đồng thời qua đó, thấy được tư tưởng, tài năng của tác giả Nguyễn Dữ. e 21 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KIỂU NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 2. Kiểu nhân vật phụ nữ Viết về người phụ nữ là một đề tài khá quen thuộc trong văn học dân tộc.
Với Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã dành nhiều ưu ái cho nhân vật phụ nữ. Khảo sát tập Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi nhận thấy có 11/20 truyện viết về phụ nữ. Số lượng tác phẩm xuất hiện kiểu nhân vật phụ nữ như vậy có thể gọi là nhiều. Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ có xây dựng hình tượng những nhân vật phụ nữ phản diện như: nàng Liễu, nàng Đào (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương Giang), Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Đào Thị Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị).
Họ đều vì số phận đưa đẩy, đều vì nghiệp oan mà trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng thật đáng thương. Tuy nhiên tác giả dành nhiều tình cảm, sự ưu ái cho những nhân vật phụ nữ chính diện. Đó đều là những người phụ nữ xinh đẹp, chuyên chính, tảo tần, tiết liệt, giàu lòng vị tha,… nhưng luôn phải chịu số phận bi thảm như: Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), nàng Dương Thị (Chuyện đối tụng ở Long cung); Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu).
Sự chú ý đến số phận con người, đặc biệt là số phận người phụ nữ, đánh dấu sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam mà Nguyễn Dữ được xem là một trong những người khởi đầu. Trong luận văn này, với kiểu nhân vật phụ nữ chính diện, chúng tôi chia thành hai loại: nhân vật phụ nữ tiết liệt và nhân vật phụ nữ tài hoa. Nhân vật phụ nữ tiết liệt Mỗi thời đại sẽ có những quy chuẩn đạo đức do con người quan niệm, e 22 đặt ra. Có quan niệm đạo đức mang tính cá nhân, có quan niệm đạo đức được cả cộng đồng đề cao, trở thành lý tưởng.
Những quan niệm đạo đức ấy có khi được mọi người ngầm hiểu với nhau, tự nguyện tuân thủ như luật bất thành văn; lại có những quan niệm đạo đức được chính quyền nhà nước cụ thể hóa thành luật, bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Đó là cơ sở nền tảng, thước đo để đánh giá về một con người tốt – xấu, khinh – trọng, thanh cao – thấp hèn,. Trong suốt tiến trình lịch sử thời trung đại, vấn đề trinh tiết của nữ giới rất được chú trọng, thậm chí trở thành vấn đề sống còn đối với người phụ nữ. Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, liệt nữ (烈女) – người con gái cứng cỏi chết vì tiết nghĩa, không chịu nhục thân [3, tr.
Từ đó, có thể hiểu: người phụ nữ tiết liệt là những người phụ nữ (kể cả đã có chồng hoặc chưa có chồng) biết kiên trinh giữ tiết, không chịu để kẻ xấu làm nhơ. Theo đó, nổi bật là hai mẫu hình: “Tiết phụ quyên sinh” (người phụ nữ sau khi chồng chết đã quyên sinh theo cho vẹn tiết) và “Trinh nữ” (người con gái chưa lấy chồng, biết kiên trinh giữ tiết, không chịu để kẻ xấu làm nhơ). Từ quan niệm về người phụ nữ tiết liệt nêu trên, chúng tôi xác định Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có các nhân vật phụ nữ tiết liệt như: nàng Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Vũ Nương – Vũ Thị Thiết trong Chuyện người con gái Nam Xương, Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương, Dương Thị trong Chuyện đối tụng ở Long cung. Trước hết, nhân vật Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu được tác giả xây dựng theo kiểu mẫu một “nghĩa phụ” với quan niệm có phần bảo thủ.
Nhị Khanh kết nghĩa vợ chồng với Trọng Quỳ không lâu thì chàng phải theo cha đi trấn thủ ở nơi xa. Thấy Quỳ bịn rịn, quyến luyến trước lúc ra đi, nàng khuyên chồng: “Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu… chả nhẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách e 23 trở trong vùng rừng núi, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp dám đâu đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo…”. Chồng ra đi, nàng ở lại thấm thoát được sáu năm, người chồng ở xa, “tin tức không thông, mất còn chẳng rõ”.
Nhiều kẻ mang vàng bạc đến cầu thân, khuyên nàng nên “bạn lành kén lựa, duyên mới vương xe” để “lấp những lời giăng gió cợt trêu, tránh phải khi ong cuồng bướm dại”. Nghe những lời ấy, nàng “sợ hãi, quên ăn mất ngủ”, quyết không “mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp với người khác”. Không thể ngồi chờ một cuộc hôn phối ép buộc, nàng đã chủ động nhờ người lặn lội đường xa, dò hỏi tin chồng. Đây được xem như màn thử thách đầu tiên về phẩm chất tiết liệt của Nhị Khanh.
Không chỉ dừng lại ở đó, phẩm chất tiết liệt của Nhị Khanh càng được khắc họa đậm nét khi chồng đã trở về, gia đình được đoàn tụ. Tưởng đâu sóng gió thử thách qua đi để nàng được hưởng trọn hành phúc. Thế nhưng, quen tính chơi bời lêu lổng, Trọng Quỳ thường cờ bạc với Đỗ Tam - một tên lái buôn hiếu sắc. Nhị Khanh thường khuyên chồng: “Những người lái buôn phần nhiều là giảo quyệt, đừng nên chơi thân với họ”.
Nhưng Trọng Quỳ không nghe. Sau vì thua bạc, y đã bán nàng cho Đỗ Tam. Liệu cơ không thoát khỏi, nàng giả vờ về nhà tạm biệt các con rồi tự vẫn. Hành động này đã minh chứng thuyết phục cho phẩm chất tiết liệt của Nhị Khanh.
Trong truyện này, nhân vật Nhị Khanh tìm đến cái chết khi chồng vẫn còn sống và bản thân cũng chưa bị kẻ xấu làm nhục. Điều này cho thấy đóng góp riêng của Nguyễn Dữ về quan niệm tiết liệt của nữ giới trong xã hội trung đại lúc bấy giờ. Với ông, phụ nữ tiết liệt không chỉ là những người thủy chung, son sắt với chồng mà cái chính là họ biết giữ gìn phẩm giá của mình. Sau này, khi người chồng biết hối cải, nàng đã trở về với tình thương hết sức cảm động của người vợ hiền hậu, dịu dàng, rộng lượng, tha thứ cho chồng, hướng chí cho con.
Với chi tiết kỳ ảo cuối truyện là sự trở về của Nhị Khanh, e 24 Nguyễn Dữ một mặt khẳng định, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ: lo lắng cho chồng con không chỉ lúc sống mà ngay cả khi chết. Mặt khác, tác giả cũng khẳng định: chính sự tiết hạnh của người phụ nữ đã làm thức tỉnh cho đức ông chồng. Bởi sau khi Nhị Khanh chết thì Trọng Quỳ đã hối cải, nuôi dạy các con theo đuổi chí hướng như lời tiên báo của Nhị Khanh. Có thể nói, Nhị Khanh đã trở thành hình mẫu lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất tiết liệt của người phụ nữ thời trung đại.
Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương là người con gái nết na và có tư dung tốt đẹp, đây cũng là đại diện cho vẻ đẹp mẫu mực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Chồng nàng là Trương Sinh, vì mến mộ mà xin mẹ hỏi cưới nàng về làm vợ. Trong cuộc sống hôn nhân với chồng, Vũ Nương hiện lên là người rất mực thủy chung lại khéo léo, đảm đang. Trương Sinh rất yêu thương vợ nhưng có tính đa nghi.
Biết thói chồng hay ghen, nàng luôn cư xử “khuôn phép”, luôn biết nhường nhịn để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Như vậy, Vũ Nương là người rất có ý thức gìn giữ phẩm hạnh. Cuộc sống hôn nhân chưa được bao lâu, Trương Sinh phải đi lính để lại vợ trẻ và mẹ già. Mặc dù rất buồn lòng khi chồng phải đi chinh chiến nhưng khi rót rượu đưa tiễn chồng, Vũ Nương đã thể hiện khát vọng thanh cao của người phụ nữ: không màng vinh hoa, danh lợi “chẳng đám mong đeo được ấn hầu trở về” mà “chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên về nhà” để sống cuộc sống gia đình sum họp, hạnh phúc.
Trong ba năm chồng đi lính, tiết hạnh của Vũ Nương được thể hiện trước hết là đối với người chồng, nàng luôn giữ gìn một tiết, không màng “tô son điểm phấn”. Trong cuộc sống đối với mẹ chồng, Vũ Nương là một nàng dâu ngoan, rất mực hiếu thảo. Khi mẹ chồng đổ bệnh vì nhớ con thì nàng hết lòng khuyên lơn, chạy chữa thuốc thang đến nơi đến chốn lại còn lễ bái cầu thần. Đến khi mẹ chồng qua đời, Vũ Nương lo mai táng chu đáo như đối với e 25 cha mẹ ruột của mình.
Tấm lòng này của người con dâu đã được mẹ chồng ghi nhận. Trước lúc ra đi, mẹ Trương Sinh có nói với nàng rằng: sau này rồi nàng sẽ được ban phúc, trời sẽ không phụ nàng cũng như tấm lòng của nàng đã không phụ bà. Chẳng những là người vợ hiền, dâu thảo, nàng còn là người mẹ yêu thương, chăm lo cho con cái. Khi chồng đi lính, nàng đã mang thai.
Sau khi tương biệt mươi ngày nàng sinh hạ được một bé trai, đặt tên là Đản. Thương con, sợ con không có tình cảm của cha nên mỗi khi đêm đến, nàng lại tự chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói rằng đó là cha của Đản. Đối với con, Vũ Nương vừa nuôi dạy làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, vừa gánh nghĩa vụ của một người cha. Nàng kể với Đản những điều tốt đẹp về cha để cậu bé ghi tạc hình dáng của cha, để sau này cha về sẽ không thấy xa lạ.