CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VA TONG QUAN NGHIÊN CUU VE TANG TRƯỞNG KINH TE 1.1 Các khái niệm liên quan đến tăng trưởng kinh tế 1.1 Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng trong nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là theo quý hoặc theo năm). Quy mô sản lượng của nền kinh tế có thể được biểu hiện thông qua chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) và các chỉ tiêu kinh tế tong hợp khác. (Giáo trình Kinh tế hoc, NXB Đại học Kinh tế quốc dân) Nếu tăng trưởng kinh tế được biểu hiện thông qua các chỉ số tuyệt đối như GDP hoặc GNP thì nó chỉ thể hiện việc gia tăng sản lượng quốc gia của một nước. Còn khi tăng trưởng kinh tế biểu hiện thông qua các chỉ số GDP/ GNP bình quân đầu người, điều đó có nghĩa là muốn nói đến sự phát triên mức sống của quoc gia đó.
Để đo lường mức tăng trưởng kinh tế có thể sử dụng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm. Mức tăng trưởng kinh tế tuyệt đối được tính là sản lượng chênh lệch giữa hai quy mô kinh tế thuộc hai kỳ cần so sánh. Ay = Y, — Ÿ;_+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bang cách lay mức tăng trưởng tuyệt đối 2 kỳ liên tiếp chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Ta sẽ thu được tốc độ tăng trưởng GDP/GNP danh nghĩa hay thực tế tuỳ thuộc vào ta lựa chọn chỉ tiêu GDP/GNP danh nghĩa hay thực té.2 Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) Tổng sản phẩm quốc gia là gia trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm hang hóa, dịch vụ cuối cùng do công dân của một quốc gia sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định (theo quý, năm).
(Nghị định 97/2016/NĐ-CP) GNP bao gồm GNP danh nghĩa và GNP thực tế, trong đó GNP danh nghĩa được tính theo giá hiện hành còn GNP thực tế được tinh theo giá của kỳ cô định. GNP là một chỉ tiêu phổ biến được sử dụng dé đánh giá sự tăng trưởng của một nền kinh tế. Có rất nhiều cách dé tinh GNP, nhưng cách tính được áp dụng nhiều nhất là tính GNP theo quan điểm chỉ tiêu xã hội. Với cách tính này, GNP được tính là chi tiêu của cá nhân va nhà nước, đầu tư trong nước, cán cân xuất nhập khâu.
Cụ thé công thức như sau: GNP=C+lI+G+(X—-M)+NR Trong đó: C: Chi tiêu dùng cá nhân I: Đầu tư quốc nội G: Chi tiêu dùng chính phủ X: Kim ngạch xuất khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ M: Kim ngạch nhập khâu ròng của hàng hóa và dịch vụ 1.3 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tổng sản phâm quốc nội (GDP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một kỳ nhất định (theo quý, năm). (Nghị định 97/2016/NĐ-CP) Có 3 phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Phương pháp sản xuất: Tổng sản phẩm quốc nội được tính băng tong giá trị gia tăng của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế sản phẩm trừ đi trợ cấp sản phẩm. Trong đó, giá trị tăng thêm có thé bao gồm giá trị thang dư, khấu hao tài sản có định, thu nhập của người lao động. Phương pháp thu nhập: Tổng sản phẩm quốc nội bằng tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc.
Theo phương pháp này, GDP gồm 4 yếu tố: thu nhập của người lao động từ sản xuất, thuế sản xuất, khẩu hao tài sản cô định dùng trong sản xuất và thang dư sản xuất. GDP =W+R+I1+Pr+Ti+De Trong đó: W: Tiền lương R: Tiền thuế I: Tiền lãi Pr: Lợi nhuận Ti: Các khoản thuế được đánh vào các hàng hoá vật chất, dịch vụ trên thị trường và trợ cấp của Chính phủ cho sản xuất De: Khấu hao tai sản cố định Phương pháp sử dụng cuối cùng: Xét ở góc độ chỉ tiêu, tổng sản phẩm quốc nội băng tổng của 4 yếu tố: tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng của chính phủ, tiết kiệm và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. GDP =C+1+G+(X-M) Trong do: C: Tiêu dùng của hộ gia đình I: Đầu tư trong nước G: Tiêu dùng của chính phủ X: Kim ngạch xuất khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ M: Kim ngạch nhập khâu ròng của hàng hóa và dịch vụ GDP là một thước đo phô biến hơn về tăng trưởng kinh tế được sử dung bởi các tổ chức kinh tế lớn trên toàn thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Chương trình phát triển Liên hiệp quốc,. cũng như các nhà nghiên bởi một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, xác định mức tăng trưởng kinh tế dựa vào chỉ tiêu GDP giúp các doanh nghiệp và các nhà đầu tư có thé đưa ra quyết định chính xác, phù hợp với thực trạng của nền kinh tế.
Sự gia tăng GDP là dấu hiệu rõ ràng cho thấy nền kinh tế đang hoạt động hiệu quả, các cá nhân, doanh nghiệp có thêm cơ sở dé đầu tư nhiều hơn. Điều đó cũng chính là nền tảng, tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Thứ hai, việc sử dụng chỉ tiêu GDP trong việc đánh giá mức tăng trưởng kinh tế rất hữu ích cho các ngân hàng trung ương khi có thé dé dang hơn trong việc xác định các chỉ tiêu nợ công, nợ chính phủ, bội thu/chi ngân sách,. so với GNP, từ đó sẽ đưa ra những điều chỉnh phù hợp chính sách tài khóa và tiền tệ.
Thứ ba, cách tính và tiếp cận GDP cho phép các chuyên gia có thể đánh giá cơ cau cũng như chuyền dịch cơ cau kinh tế theo ngành và nhóm ngành kinh tế. Chỉ tiêu GDP cũng giúp phản ánh rõ rành hơn thực trạng sản xuất của từng ngành kinh tế. Thứ tr, vì GDP là tat cả sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thé một quốc gia nên Chính phủ các quốc gia có thé thuận lợi và dé dang hơn trong thu thập dữ liệu. Trong khi đó, dé tinh GNP can phải thu thập dữ liệu từ công dân quốc gia này đang sinh sống tại các quốc gia khác trên thé giới — điều này sẽ gặp phải nhiều khó khăn do Chính phủ cần nhiều thời gian và công sức.
Với những lý do trên, tuy chưa hoàn toàn là một chỉ số có thể phản ánh tuyệt đối mức tăng trưởng kinh tế nhưng GDP van là chỉ tiêu hàng đầu được các chuyên gia lựa chọn để đánh giá và so sánh mức tăng trưởng với các quốc gia trên thế giới hoặc các giai đoạn khác nhau của một quốc gia.2 Các lý thuyết liên quan đến tăng trưởng kinh tế 1.1 Lý thuyết cỗ điển Adam Smith (1723-1790) đưa ra quan niệm rang tăng trưởng kinh tế là tăng sản lượng đầu ra tính theo bình quân đầu người hoặc tăng sản phâm lao động tức là tăng thu nhập ròng của xã hội. Ong đã chỉ ra năm nhân tổ tác động đến tăng trưởng kinh tế gồm: lao động, tư bản, đất đai, tiến bộ kĩ thuật và môi trường chế độ kinh tế — xã hội. Adam Smith coi lao động là nhân tố tăng trưởng cực kì quan trọng.Malthus (1776-1834), dân số quốc gia tăng theo cấp số nhân, còn lương thực chỉ tăng theo cấp số cộng (do sự “có hạn” của đất đai), do vậy muốn duy trì mức tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân sé. David Ricardo (1772-1823) đã kế thừa, tiếp thu tư tưởng từ cả Adam Smith và T.
Malthus, ông cho răng nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế quốc gia.Ricardo nhân mạnh yếu tố cơ bản của tăng trưởng là đất dai, lao động và vốn dau tư trong từng, các yếu tô này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ có định, không thay đổi. Ông còn đặc biệt nhấn mạnh tích lũy tư bản là nhân tố chủ chốt quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế còn các chính sách, điều chỉnh của chính phủ không có ảnh hưởng gì tới hoạt động của nên kinh tê.2 Lý thuyết trường phái Keynes (Mô hình Harrod-Domar) Các lý thuyết cô điển dan trở lên lỗi thời khi không thé giải thích được những hiện tượng kinh tế khi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế xảy ra (1929-1933) như mức sản lượng thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao kéo dài. Bên cạnh đó khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp như chế tạo ra máy kéo, sáng chế ra nhiều loại phân bón, thuốc trừ sâu, lai tạo giống cây mới, phát triển kỹ thuật thâm canh tăng vu,. đã giúp cho sản lượng nông nghiệp tăng lên nhanh chóng nên dù cho lượng đất đai “có hạn”, lượng lương thực thực phẩm tạo ra được vẫn đủ cung cấp cho mọi người.
Nhà kinh tế học John Maynard Keynes (1883-1946) là người tiên phong trong việc phủ nhận quan điểm sai lầm đang thống trị thời bấy giờ răng các thị trường không cần sự can thiệp nào cũng sẽ tự điều chỉnh dé đạt tới trang thái toàn dụng lao động với điều kiện người lao động chấp nhận mọi mức tiền công được trả. Lý thuyết trường phái Keynes cho răng tổng cầu là tổng chỉ tiêu dùng của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ, đây mới chính là động lực quan trọng nhất dé thúc day nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, các nhà kinh tế học theo chủ nghĩa Keynes đều nhấn mạnh vai trò của các chính sách điều chỉnh, sự can thiệp của Chính phủ trong việc giúp thị trường đạt được trạng thái toan dụng lao động va sự ôn định giá cả. Mô hình Harrod-Domar là một mô hình theo trường phái Keynes về tăng trưởng kinh tế.
Nó được sử dụng dé giải thích tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc mức độ tiết kiệm và vốn. Nó cho rằng một nền kinh tế không thê tự đạt được sự tăng trưởng cân bằng. Đối với mô hình tăng trưởng kinh tế Harrod- Domar, tiết kiệm và đầu tư là yếu tố tiên quyết, quyết định chính đến sự tăng trưởng kinh tế. Trong mô hình này, hai ông đã giả định tỷ lệ sản lượng/tư bảnà không đổi, do vậy sẽ tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa sự gia tăng trong khối lượng tư bản và sự gia tăng sản lượng do có sự gia tăng tư bản đó.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh té của Solow Mô hình tăng trưởng kinh tế Solow là mô hình nhắn mạnh, đề cao vào vai trò của những tiến bộ, phát triển về khoa học công nghệ đối với quá trình tăng trưởng kinh tế.