Chương 1 là tổng quan đề tài nghiên cứu, tác giả đã thực hiện được các nội dung sau: Đưa ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn; đồng thời nêu được phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài; những đóng góp của đề tài và bố cục của luận văn. Phần cơ sở lý thuyết liên quan, cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu đề xuất sẽ được trình bày trong chương tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 CƠ S LÝ THUY T VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Dị h vụ ho vay rả góp tiêu dùng 2.1 Các kh i niệm Cho vay trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng của công ty tài chính đối với khách hàng, theo đó công ty tài chính và khách hàng thỏa thuận trả nợ gốc và lãi tiền vay theo nhiều kỳ hạn - tại điểm khoản 3 điều 3 Thông tư 43/2016/TT-NHNN. Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100.
Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật – tại điểm khoản 1 điều 3 Thông tư 43/2016/TT-NHNN.2 Đặ iểm dị h vụ ho vay rả góp tiêu dùng Dịch vụ cho vay trả góp tiêu dùng được thực hiện theo thỏa thuận giữa công ty tài chính và khách hàng, phù hợp với các quy định của NHNN và pháp luật có liên quan. Công ty tài chính phải thực hiện quản lý, giám sát, thống kê hoạt động cho vay tiêu dùng tách bạch với các hoạt động cho vay khác của công ty tài chính. Khách hàng vay vốn công ty tài chính phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với công ty tài chính. Các mục đích tiêu dùng được phép cho vay trả góp tiêu dùng gồm: Mua phương tiện đi lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình; Chi phí học tập, chữa bệnh, du lịch, văn hóa, thể dục, thể thao; Chi phí sửa chữa nhà ở.
Đối tượng khách hàng của dịch vụ cho vay trả góp tiêu dùng tại Công ty tài chính là người lao động có thu nhập thấp và trung bình khoảng từ 05 triệu đồng – 10 triệu đồng. Dư nợ các khoản vay tiêu dùng có giá trị nhỏ (thông thường từ 03 triệu đồng đến 50 triệu đồng), thủ tục giấy tờ đơn giản (chỉ gồm giấy tờ đơn giản như hộ khẩu, chứng minh thư, giấy phép lái xe, hóa đơn điện nước,…), số lượng khách hàng của Công ty 6 tài chính cho vay tiêu dùng rất lớn do đáp ứng vốn vay cho các nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Lãi suất của khoản vay tiêu dùng rất cao, rơi vào khoảng từ 35%-70%. Nguyên nhân lãi suất cho vay tiêu dùng cao vì rủi ro cao (cho vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo, khả năng tài chính của khách hàng thấp), chi phí vốn cao hơn Ngân hàng thương mại do Công ty tài chính không được huy động từ dân cư, ngoài ra chi phí hoạt động của Công ty tài chính cũng cao hơn so với Ngân hàng thương mại vì số lượng giao dịch lớn, đầu tư hạ tầng công nghệ nhiều.
Nhu cầu vay của khách hàng kém nhạy cảm với lãi suất. Khách hàng vay thường quan tâm đến số tiền họ phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất suất mà họ phải chịu mặc dù chính lãi suất ghi trong hợp đồng ảnh hưởng đến qui mô số tiền phải trả. Nhu cầu vay của khách hàng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế có tăng trưởng, mọi người lạc quan về tương lai, họ sẽ chi tiêu nhiều hơn.
Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng lên thì người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn.3 C hình hứ ủa dị h vụ ho vay tiêu dùng rả góp Gottfied Haberler (1942) đã phân chia cho vay trả góp tiêu dùng thành 02 hình thức: Cho vay tiêu dùng trả góp bằng tiền mặt (Cash loan) hay còn gọi là tín dụng trực tiếp trong đó người vay sẽ nhận tổng số tiền vay bằng tiền mặt (tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản người đi vay) để sử dụng vào các mục đích tiêu dùng của mình. Cho vay tiêu dùng trả góp hàng hóa (commodity credit) hay tín dụng gián tiếp trong đó người vay sẽ không nhận tiền mà chỉ nhận hàng hóa và được ghi nợ một số tiền nhỏ hơn giá bán của của hàng hóa. Hiện nay tại Việt Nam hai hình thức cho vay ở trên đang rất phát triển. Tuy nhiên trên thế giới thì hình thức cho vay tiêu dùng trả góp hàng hóa phát triển hơn.4 Vai rò dị h vụ ho vay tiêu dùng rả góp Cho vay tiêu dùng trả góp đang ngày càng trở nên quen thuộc hơn với người dân, đặc biệt là những người trong độ tuổi lao động nhưng thu nhập thấp hoặc thu nhập không ổn định.
Cho vay tiêu dùng trả góp đáp ứng nhu cầu thiết thực hàng ngày 7 của người dân, đặc biệt cũng làm cho quản lý tài chính cá nhân tốt hơn góp phần giảm tệ nạn tín dụng đen. Với nền kinh tế, tiêu dùng cá nhân đang chiếm 67-78% GDP, nên cho vay tiêu dùng trả góp có vai trò quan trọng tiếp theo là góp phần phát triển thị trường tài chính chung và đóng góp hiệu quả hơn vào tăng trưởng kinh tế gắn liền với nâng cao chất lượng đời sống của người dân.5 C y u ố ảnh h ng n ph riển dị h vụ ho vay rả góp Các yếu tố từ phía Công ty tài chính Thứ nhất, chiến lược kinh doanh. Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng. Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường.
Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra các cơ hội mới… Thứ hai, các chính sách, quy định của ngân hàng. Đó là chính sách chăm sóc khách hàng trước và sau khi cho vay có chu đáo hay không; Các quy định về lãi suất và phí tín dụng cao hay thấp, có linh hoạt và phù hợp với thu nhập hiện có của người dân hay không; Các quy định về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo, phương thức giải ngân và thanh toán, thủ tục xin vay vốn có phức tạp hay đơn giản, thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn kéo dài bao lâu… Thứ ba, chất lượng của nhân viên trong quy trình cho vay (sale, thẩm định, hỗ trợ, thu hồi nợ. Họ là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn khách hàng các thủ tục vay vốn, thực hiện thu thập và xử lý thông tin về khách hàng để đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay, cũng như là người thực hiện giám sát sau khi cho vay và thu nợ. Do đó, mỗi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn, khả năng nghiệp vụ, khả năng phân tích, đánh giá, có trách nhiệm trong công việc trên cơ sở lựa chọn được những khách hàng có đủ năng lực pháp lý, có đủ năng lực tài chính, có tư cách đạo đức tốt… Nhờ có những cán bộ như vậy, các khoản cho vay diễn ra an toàn và hiệu quả hơn, hoạt động cho vay cũng nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Công nghệ thông tin. Công nghệ hiện đại giúp cho Công ty cung cấp dịch vụ hiện đại, phong phú phục vụ nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của khách hàng. Trong khi đó, đặc thù của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là giao dịch với số lượng 8 khách hàng đông và đa dạng, Công ty tài chính phải thực hiện một số lượng lớn các hợp đồng cho vay. Do đó, hệ thống công nghệ của ngân hàng hiện đại vừa giúp nâng cao năng suất lao động, vừa nhằm hạn chế tối đa sự nhầm lẫn, sai sót, rủi ro trong quá trình giao dịch với khách hàng.
Các yếu tố từ phía khách hàng Thứ nhất, năng lực tài chính của khách hàng. Một khoản vay vốn được Công ty tài chính chấp nhận khi khách hàng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về năng lực tài chính đủ lớn và lành mạnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Công ty tài chính cần xem xét kỹ lưỡng những nguồn trả nợ nghi ngờ về tính lành mạnh hoặc nguồn đủ mạnh nhưng không ổn định. Thứ hai, nhu cầu, thói quen và đạo đức khách hàng.
Đạo đức khách hàng là nhân tố rất quan trọng trong phát triển và thành công của dịch vụ cho vay tiêu dùng trả góp. Nếu như khách hàng là người có ý thức trả nợ tốt, rủi ro tín dụng thấp thì sẽ kích thích ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, các quy định cũng sẽ không quá khắt khe. Các yếu tố từ nền kinh tế và các quy định, chính sách từ các cơ quan quản lý Môi trường kinh tế, chính trị. Môi trường kinh tế, chính trị có ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng trả góp.
Nếu nền kinh tế phát triển tốt, thu nhập bình quân đầu người cao và môi trường chính trị ổn định thì hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân cũng sẽ diễn ra thông suốt, phát triển vững chắc và hạn chế rắc rối xảy ra. Nếu môi trường có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các Công ty để dành khách hàng thì hoạt động cho vay của Công ty tài chính gặp nhiều khó khăn. Các chính sách quản lý: Kinh doanh trong lĩnh vực Công ty tài chính là kinh doanh rủi ro nên thường chịu đựng sự giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp. Một sự điều chỉnh nhỏ của các chính sách liên quan đến tỷ giá, lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay chính sách quản lý ngoại hối, chính sách về hệ thống Công ty tài chính tài chính sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Công ty tài chính và lẽ tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến các sản phẩm của Công ty tài chính kèm theo đó là các dịch vụ của Công ty tài chính.