Phần mở đầu. luận văn chia thành 5 chƣơng nhƣ sau: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết – Mô hình nghiên cứu Chƣơng 2: Tổng quan về Ngân hàng TMCP PN Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ IB của khách hàng cá nhân, thực chất là quá trình phân tích về hành vi tiêu dùng trực tuyến của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng. Hành vi của ngƣời tiêu dùng trực tuyến đã đƣợc nghiên cứu bởi nhiều tác giả trên các lĩnh vực nhƣ mua sắm trực tuyến, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, thƣ viện trực tuyến… Trong số đó, các lý thuyết, mô hình nghiên cứu đƣợc ứng dụng phổ biến nhất bao gồm: - Lý thuyết hành động hợp lý (theory of reasoned action – TRA) của Ajzen & Fishbein (1973) - Lý thuyết hành vi có dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991) - Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM ) của Davis (1996) Từ những lý thuyết cơ bản trên, các tác giả sau này đã xây dựng nên các mô hình nghiên cứu cho riêng mình trong quá trình phân tích, đánh giá về ý định sử dụng dịch vụ Internet banking tại các quốc gia khác nhau (Bảng 1. Những công trình nghiên cứu này, sau đó, với tính hiệu quả cao của nó, vừa khẳng định sự phù hợp của 03 lý thuyết trên đối với việc nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ IB của khách hàng, vừa tiếp tục bổ sung cho các tác giả sau này những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để ứng dụng vào công trình nghiên cứu của mình.
Một số nghiên cứu về ý định sử dụng Internet banking Tác giả Mô hình Nội dung Kết quả Zeleke Sira TAM, TPB Phân tích các Thái độ, quy chuẩn chủ (European nhân tố ảnh hƣởng quan, kiểm soát hành vi Scientific Journal đến ý định chấp cảm nhận, hữu dụng cảm May 2013 edition nhận dịch vụ ngân nhận, dễ sử dụng cảm vol.13) hàng điện tử tại nhận, rủi ro cảm nhận. Bahirdar 7 Liliana Mihaela TAM, TPB, Các nhân tố và mô Tính tƣơng thích, kỹ năng, Moga, Khalil Md TID hình về sự chấp tiện nghi Nor and Eugen nhận dịch vụ e- Mitrica banking tại các doanh nghiệp Romania Nur Amirah TAM Nhân tố tác động Bảo mật, tin cậy, quen Mohd Zain, Nurul đến sự chấp nhận thuộc, nhận thức. Farah Raizal and của ngƣời dùng Nurul Syafiqa dịch vụ e-banking Khamsan (2012) tại Damansara, Malaysia. Dineshwar TAM Phân tích nhân tố Tích cực: Hữu dụng cảm Ramdhony & ảnh hƣởng đến nhận, thuận tiện cảm nhận, Ashvin Ramjee việc sử dụng dịch tin cậy, tiện nghi, nhận (2010) vụ IB tại cộng hòa thức.
Mauritius Rào cản: thiếu tin cậy, hỗ trợ, thuận tiện,nhận thức. Wang Lin Tang TAM Phân tích nhân tố Sự tin cậy, Tính dễ sử (2003) ảnh hƣởng đến dụng, Hữu dụng cảm nhận, việc chấp nhận kỹ năng, ý định. dịch vụ IB. Shih Fang (2003) TPB và TPB Ứng dụng mô Thái độ, Quy chuẩn chủ điều chỉnh hình TPB điều quan, Tính tƣơng thích, Sự chỉnh trong việc phức tạp, Thuận tiện cảm nghiên cứu IB tại nhận, kỹ năng, Cơ sở hạ Đài Loan tầng.
Wungwanit- TPB hiệu Sự chấp nhận đối Sự tin cậy, Sự phức tạp, Chakorn (2002) chỉnh với dịch vụ IB tại Tính tƣơng thích, Rủi ro Phần Lan cảm nhận, Giá trị xã hội, Tuổi, Chi phí. Tan & Teo (2000) TPB và TID Nhân tố ảnh Quy chuẩn chủ quan, kỹ hƣởng đến sự năng, Rủi ro, Kinh nghiệm chấp nhận dịch vụ sử dụng Internet, Sự phức IB tạp, Độ tin cậy, Hỗ trợ của Chính Phủ, Hỗ trợ về công nghệ. 8 Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trƣớc đây, tác giả sẽ trình bày sơ lƣợc về các lý thuyết, mô hình TRA, TPB, TAM, từ đó chọn lựa, phát triển mô hình làm nền tảng cho mô hình nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ IB của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Phƣơng Nam.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA, Fishbien & Azjen, 1975). Theo lý thuyết trên, ý định hành vi chịu sự tác động bởi hai yếu tố bao gồm: - Nhân tố thuộc về cá nhân (thái độ) - Nhân tố mang tính xã hội, cộng đồng (quy chuẩn chủ quan) Hai nhân tố trên cùng tác động đến ý định hành vi của ngƣời tiêu dùng với mức độ và tầm quan trọng khác nhau, khi đó, nhân tố nào vƣợt trội sẽ có ý nghĩa quyết định đến ý định hành vi của ngƣời tiêu dùng (Fishbien & Azjen, 1980).
Cũng theo lý thuyết TRA, chỉ có “ý định hành vi” là yếu tố duy nhất trực tiếp dẫn đến hành vi thực tế. Trong mô hình TRA, thái độ đƣợc đo lƣờng bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Ngƣời tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau, nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần đúng kết quả lựa chọn của ngƣời tiêu dùng. Trong khi đó, yếu tố quy chuẩn chủ quan có thể đƣợc đo lƣờng thông qua những ngƣời có liên quan đến ngƣời tiêu dùng (nhƣ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…).
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến ý định mua của ngƣời tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của ngƣời tiêu dùng và (2) động cơ của ngƣời tiêu dùng làm theo mong muốn của những ngƣời có ảnh hƣởng. 9 Thái độ Đối với hành vi Ý định Hành vi Quy chuẩn Chủ quan Hình 1. Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Fishbien & Azjen, 1980) 1.2 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior - TPB). Mặc dù mô hình TRA thể hiện đƣợc khả năng dự báo mạnh mẽ trong các nghiên cứu trƣớc đây, Sheppard và cộng sự (1988) đã chỉ ra hai vấn đề của lý thuyết này.
Đầu tiên, có nhiều yếu tố khác cũng ảnh hƣởng đến hành vi của một cá nhân bên cạnh ý định của ngƣời đó. Thứ hai, đó là thiếu cơ sở để dự đoán khả năng thất bại của kết quả thực hiện là do ý định hay hành vi của cá nhân đó. Để giải quyết vấn đề này, Ajzen đã bổ sung thêm yếu tố “kiểm soát hành vi cảm nhận” vào mô hình trên nhằm phản ánh nhận thức của ngƣời sử dụng về các biến bên trong và bên ngoài đối với hành vi. Mô hình TPB và TRA có nhiều điểm tƣơng đồng nhƣ “ý định” là yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp đến “hành vi thực tế”, “thái độ” và “quy chuẩn chủ quan” ảnh hƣởng đến “ý định”.
Tuy nhiên, trong mô hình TPB, yếu tố “kiểm soát hành vi cảm nhận” ngoài việc tác động đến “ý định” còn tác động trực tiếp đến “hành vi thực tế”. Lý thuyết hành vi dự định đƣợc sử dụng rộng rãi và thành công trong nhiều nghiên cứu về dự đoán hành vi và ý định nhƣ ý định của ngƣời dùng trong việc sử dụng phần mềm (Mathiesen,1991) hoặc cai nghiện caffeine (Madden và cộng sự, 1992)… những kết quả trên đã thể hiện khả năng dự đoán vƣợt trội của mô hình TPB so với TRA. 10 Thái độ đối với hành vi Ý định Hành vi Quy chuẩn Chủ quan Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 1. Mô hình thuyết hành vi dự định TPB (Fishbien & Azjen, 1980) 1.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM).
Mô hình TAM (Davis,1989; David & Bagozzi, 1989) đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc phân tích, dự đoán sự chấp nhận của ngƣời dùng đối với sản phẩm, dịch vụ liên quan đến công nghệ. Đây là sự bổ sung cho lý thuyết hành động hợp lý – TRA, vốn là lý thuyết tổng quát về hành vi của con ngƣời. Tuy nhiên, trong mô hình này, Davis loại bỏ yếu tố “quy chuẩn chủ quan” vì ông cho rằng nó có tác động không đáng kể đến ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng. Thay vào đó, mô hình sử dụng hai yếu tố là “hữu ích cảm nhận” và “thuận tiện cảm nhận”.
Trong đó, biến phụ thuộc trong mô hình TAM là “hành vi sử dụng thực tế” của ngƣời tiêu dùng. Các biến “hữu ích cảm nhận” và “thuận tiện cảm nhận” chịu tác động của các biến ngoại nhƣ trình độ học vấn, giới tính, môi trƣờng, kinh nghiệm sử dụng dịch vụ,… Theo đó, “hữu ích cảm nhận” đƣợc định nghĩa là mức độ mà ngƣời dùng tin rằng việc sử dụng một hệ thống nhất định sẽ nâng cao chất lƣợng công việc của họ. Trong khi đó, “thuận tiện cảm nhận” đƣợc định nghĩa là mức độ mà ngƣời dùng tin rằng việc sử dụng hệ thống, dịch vụ đó đem lại cho họ sự thuận tiện, dễ sử dụng (giảm bớt những nỗ lực về thể chất và tinh thần của họ). Ngoài ra, Davis cũng bổ sung 2 yếu tố là “thái độ sử dụng” và “ý định thực hiện hành vi”.
Trƣớc công trình 11 nghiên cứu của Davis, đã có nhiều nghiên cứu nêu lên tầm quan trọng của “thuận tiện cảm nhận” và “hữu ích cảm nhận”. Tuy nhiên, các công trình này ít đƣợc nhắc đến sau này. Ví dụ, Schultz và slevin (1975) đã thấy rằng “hữu ích cảm nhận” cung cấp một dự đoán tƣơng đối chính xác về ý định sử dụng của ngƣời dùng. Robbey (1979) sau đó xác nhận có sự tồn tại mối tƣơng quan giữa “hữu ích cảm nhận” và hành vi sử dụng thực tế.
Ở khía cạnh khác, trong nghiên cứu về việc chấp nhận đối với sự đổi mới (Tornatzky & Klein, 1982), qua phân tích mối quan hệ giữa “các tính chất của sự cách tân” và “sự chấp nhận” cho thấy “sự phức tạp” là một trong ba yếu tố có tác động trực tiếp đến “sự chấp nhận”. Tiếp đó, Bandura (1982) cho thấy sự quan trọng của việc xem xét cả 2 yếu tố trong việc dự đoán hành vi. Bandura cho rằng trong bất cứ trƣờng hợp nào, hành vi phải đƣợc dự đoán bởi cả “yếu tố tự lực” và “đánh giá thành phẩm”. Có thể thấy rằng, “yếu tố tự lực” có điểm tƣơng đồng với “thuận tiện cảm nhận”, nó cho thấy khả năng của cá nhân có thể tự giải quyết đƣợc các trƣờng hợp phát sinh trong quá trình sử dụng.
Giữa “đánh giá thành phẩm” và “hữu dụng cảm nhận” đều thể hiện niềm tin, sự đánh giá về mức độ thành công, chất lƣợng của công việc khi ngƣời dùng sử dụng dịch vụ thành công. Tƣơng tự, nghiên cứu của Swanson (1982) chỉ ra rằng “hữu dụng cảm nhận” và “thuận tiện cảm nhận” đều là những nhân tố quan trọng quyết định đến hành vi.