MỞ ĐẦU Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở bất cứ quốc gia nào. Một hệ thống ngân hàng có hiệu quả tốt có thể chịu đựng được các cú sốc khác nhau và do đó góp phần vào sự ổn định của nền kinh tế. Cùng với quá trình hội nhập với thế giới, hệ thống ngân hàng của Việt Nam đã và đang có rất nhiều thay đổi. Nhiều ngân hàng bao gồm các ngân hàng thương mại và chi nhánh nước ngoài đã được thành lập, các ngân hàng hoạt động càng ngày càng cạnh tranh, phát triển với tốc độ nhanh, giảm các yếu tố độc quyền như trước đây.
Nhờ vậy, các khách hàng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn sử dụng dịch vụ và ngày càng được đáp ứng yêu cầu tốt hơn. Tuy nhiên, Tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam khá lớn, nhưng có tình trạng phân bố không đều, nơi thừa, nơi thiếu và chưa đảm bảo sự đa dạng về loại hình và quy mô (Ủy Ban giám sát Tài chính Quốc gia). Chính vì sự cạnh tranh và nhu cầu tăng trưởng nhanh chóng đã dẫn đến những bất ổn trong hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc lượng hóa các hiệu quả đạt được trong quá trình thay đổi, nâng cao chất lượng dịch vụ của hệ thống ngân hàng, đồng thời, nghiên cứu các tác động lên hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy các ngân hàng thực hiện những mục tiêu cụ thể, hỗ trợ ngân hàng hoạt động hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống.
Luận văn nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam giai đoạn 2009-2012 để ước tính mức độ hiệu quả và tìm kiếm các nhân tố tác động lên hiệu quả hoạt động của các NHTM. Mục tiêu nghiên cứu: - Ước tính tính hiệu quả của các NHTM. 2 - Phân tích tác động cụ thể của các biến vi mô, biến ngành, biến vĩ mô lên hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại, tìm ra các biến có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. - Đề xuất định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng, sử dụng mô hình DEA (Data Envelopment Analysis) hai bước: - Bước 1: giải bài toán quy hoạch tuyến tính để đo lường mức độ hiệu quả kỹ thuật TE (Technical efficiency), hiệu quả kỹ thuật thuần PTE (Pure Technical efficiency) và hiệu quả theo quy mô (Scale efficiency), làm cơ sở để xác định biến phụ thuộc. - Bước 2: sử dụng phương pháp hồi quy Tobit để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên hiệu quả hoạt động của NHTM. Ý nghĩa khoa học luận văn Nghiên cứu tìm ra tác động phi hiệu quả 7,14%; 3% và 4,26% cho giai đoạn 2009-2012. Các ngân hàng có quy mô lớn hoạt động kém hiệu quả hơn các ngân hàng quy mô nhỏ và không đóng góp vào hiệu quả hoạt động của 26 NHTM trong mẫu nghiên cứu.
Sử dụng mô hình hồi quy Tobit, kết quả cho thấy hiệu quả hoạt động của các NHTM chịu sự ảnh hưởng của nhân tố vi mô, vĩ mô và biến ngành. Bài nghiên cứu có bố cục như sau: - Các nghiên cứu thực nghiệm về tính hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của NHTM - Phương pháp luận và dữ liệu nghiên cứu - Thảo luận kết quả nghiên cứu - Một số hạn chế của nghiên cứu và các kiến nghị 3 4. Các nghiên cứu thực nghiệm về tính hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của NHTM 4. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở các nước phát triển, có một số bài viết điều tra nguyên nhân hoạt động không hiệu quả của NHTM, nghiên nhiều hơn về tính phi hiệu quả.
Dựa trên mô hình CAMEL, các kết quả cho thấy Tính thanh khoản cũng như chất lượng của tài sản có ảnh hưởng đến hiệu quả của NHTM. Wilson (1995) sử dụng phương pháp chi phí và lợi nhuận ngẫu nhiên điều tra nguyên nhân thất bại của các ngân hàng Mỹ, các kết quả thực nghiệm cho thấy các ngân hàng có vốn hóa tốt, thanh khoản cao, ít nợ xấu có hiệu quả và lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng có vốn hóa thấp, ít thanh khoản và chất lượng tài sản xấu. Bài viết thực hiện ở các nước EU với mục đích điều tra các nhân tố vĩ mô và vi mô đối với hiệu quả NHTM, Casu B và Molyneux P (2003) sử dụng mô hình DEA đã nghiên cứu tình trạng hiệu quả của các ngân hàng EU khác nhau, sau đó áp dụng phương pháp mô hình hồi quy Tobit. Các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng từ khi có sự thành lập của thị trường chung Châu Âu, có nhiều cải tiến nhỏ trong các mức độ hiệu quả, với nhân tố biến ngành có tác động đến hiệu quả hoạt động của hầu hết các ngân hàng.
Delis và Papanikolaou (2009) nghiên cứu các yếu tố quyết định hiệu quả của ngân hàng trong 10 quốc gia mới gia nhập EU, áp dụng một mô hình hai giai đoạn bán tham số để kiểm tra ảnh hưởng của biến ngành ngân hàng, biến vi mô và vĩ mô tác động lên hiệu quả của ngân hàng. Các kết quả cho thấy sở hữu nước ngoài, lãi suất thị trường và tăng trưởng GDP có quan hệ cùng chiều với hiệu quả ngân hàng. Mặt khác, rủi ro tín dụng và sự tập trung của ngành công nghiệp cho thấy một mối quan hệ tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ở các nước đang phát triển, các nhân tố khác nhau cũng được sử dụng để nghiên cứu tác động đến hiệu quả hoạt động NHTM.
Một số nhân tố là yếu tố vi mô, đặc điểm cụ thể ngành công nghiệp cũng như môi trường vĩ mô. Ở các quốc gia 4 đang phát triển, việc bãi bỏ điều tiết trong lĩnh vực tài chính gặp nhiều thách thức, và một vài bài nghiên cứu có thể đánh giá tác động của các luật lệ này lên hiệu quả hoạt động ngân hàng, đặc biệt khi có sự góp mặt của các ngân hàng nước ngoài trong nền kinh tế, so sánh ước lượng hiệu quả giữa các ngân hàng nội địa và nước ngoài là quan trọng. Do đó, sở hữu được xem như là một trong những yếu tố quyết định trong nhân tố ngành công nghiệp cụ thể ở hầu hết các nước đang phát triển. Các nhân tố khác có thể bao gồm lạm phát thường gây ra bởi sự bất ổn kinh tế ở những quốc gia này, mặt khác tăng trưởng kinh tế được đánh giá bằng GDP được xem xét, các nhân tố khác là tổng tài sản ngân hàng và mức NPL có đề cập đến nhưng không nhiều.
Nghiên cứu có liên quan như Kablan S. (2010) trong phạm vi Châu Phi – khu vực cận Sahara, đánh giá mức độ phát triển tài chính cũng như hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Phương pháp ngẫu nhiên (stochastic approach) và phương pháp Generalized Moment Methods (GMM) được sử dụng trong bài viết. Với phương pháp ngẫu nhiên, hầu hết các quốc gia Châu Phi – khu vực cận Sahara được tìm thấy có hiệu quả về chi phí, tuy nhiên NPL làm xói mòn tính hiệu quả của các ngân hàng này, và nghiên cứu đề xuất cải thiện tính pháp lý cũng như môi trường tín dụng.
Ngoài ra, môi trường chính trị và kinh tế tác động đến hiệu quả và sự phát triển tài chính ở Châu Phi – khu vực cận Sahara, kết quả là làm giảm đi mức độ hiệu quả. Khi xem xét các yếu tố quyết định hiệu quả ngân hàng, dưới phương pháp GMM, hệ số tương quan ROE được tìm thấy là tỷ lệ thuận – dấu hiệu của sự giảm thiểu rủi ro, tổng tài sản ngân hàng tăng lên được tìm thấy tác động tiêu cực lên hiệu quả do gia tăng chi phí hoạt động, đặc biệt khi ngân hàng lớn hoạt có hiệu quả kinh tế giảm theo quy mô. Ở Brazil, bài viết bởi Tecles, P.M (2010) sử dụng phương pháp Bayesian Stochastic trong giai đoạn sau tư nhân hóa 2000-2007, đánh giá hiệu quả chi phí và lợi nhuận. Kết quả cho thấy các ngân hàng lớn có chi phí và lợi nhuận hiệu quả.
Các ngân hàng nước ngoài đã đạt được mức hiệu quả cao thông qua việc thành lập các chi nhánh mới và mua lại các ngân hàng địa phương. Các ngân hàng quốc doanh đã có những cải tiến trong hiệu quả chi phí, nhưng có liên quan đến tính 5 phi hiệu quả về lợi nhuận. Cuối cùng, có mối quan hệ cùng chiều giữa mức vốn hóa thị trường và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ở Mexico, mô hình DEA 2 giai đoạn được sử dụng để đánh giá các yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của NHTM, được viết bởi Garcia-Garza.G, (2011), sau đó các kết quả được hồi quy thông qua mô hình Tobit để tìm ra các yếu tố quyết định chính, các kết quả thực nghiệm của bài viết này chỉ ra ngành ngân hàng Mexico đã trải qua mức phi hiệu quả trung bình trong suốt kỳ nghiên cứu, với phi hiệu quả kỹ thuật (15%), phi hiệu quả kỹ thuật thuần (29%) và phi hiệu quả quy mô (14%), tuy nhiên mức độ hiệu quả gia tăng từ 2008 trở về sau, các yếu tố quyết định chính của sự gia tăng trong hiệu quả nhờ vào tăng cường cho vay và tăng trưởng GDP, nhưng phi hiệu quả bị gây ra bởi nợ xấu, sự gia tăng chi phí ngoài lãi và tỉ lệ lạm phát.
Mô hình DEA 2 giai đoạn cũng được sử dụng ở các Ngân hàng Ả Rập Saudi, được nghiên cứu bởi G., (2011), giai đoạn đầu mô hình DEA (giả định VRS) được sử dụng, sau đó mô hình hồi quy cắt cụt bootstrapped (bootstrapped truncated regression model ) được sử dụng để có được các yếu tố quyết định hiệu quả. Các kết quả thực nghiệm chỉ ra các Ngân hàng Ả rập Saudi liên tục cải thiện tình trạng hiệu quả từ năm 2004. Các yếu tố tác động đến hiệu quả được tìm thấy bao gồm tăng tổng tài sản của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể làm tăng hiệu quả kỹ thuật của các Ngân hàng, mặt khác lợi nhuận biên NPM (Net profit Margin) được tìm thấy có ý nghĩa và tỷ lệ thuận với hiệu quả, tuy nhiên hệ số tương quan nhỏ ngụ ý rằng ngay cả khi các ngân hàng hoạt động hiệu quả vẫn có lợi nhuận biên thấp. Với phương pháp tham số, một số bài viết đã sử dụng Stochastic Frontier Approach (SFA) để ước lượng hiệu quả lợi nhuận và chi phí, sau đó tìm ra các nhân tố quyết định tính phi hiệu quả.