CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN DE CHUNG 1. TONG QUAN VE LOGISTICS 1. Logistics trong nền kinh tế hiện đại 111. Sự phát triển của logistics kinh doanh Logistics hoan toan không phải là lĩnh vực mới mẻ.
Từ thuở xa xưa, sau mùa thu hoạch người ta đã biết cách cất giữ lương thực để dùng cho những lúc giáp hạt. Tơ lụa của Trung Quốc đã tìm được đường đến với khắp nơi trên thế giới. Nhưng do giao thông vận tải và các hệ thống bảo quản chưa phát triển, nên các hoạt động giao thương còn hạn chế. Thậm chí, ngày nay ở một vài nơi trên thế giới vẫn còn những cộng đồng sống theo kiểu tự cung tự cấp, mà không có trao đổi hàng hóa với bên ngoài.
Lý do chính là ở đó thiếu một hệ thống hậu cần phát triển hợp lý và hiệu quả. Theo từ điển Oxford thì logistics trước tiên là “Khoa học của sự di chuyển, cung ứng và duy trì các lực lượng quân đội ở các chiến trường". Napoleon đã từng định nghĩa: Hộu cân là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội, nhưng cũng chính lý do hoạt động hậu cần sơ sài đã dẫn đến sự thất bại của vị tướng tài ba này trên đường tới Moscow vì đã căng hết mức đường dây cung ứng của mình. Cho đến nay, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia nỗi tiếng trên thé giới.
Logistics hiện đại (moderm business logistics) là một môn khoa học tương đối trẻ so với những ngành chức năng truyền thống như marketing, tài chính, hay sản xuất. Cuốn sách đầu tiên về logistics ra đời năm 1961, bằng tiếng Anh, với tựa dé “Physical distribution management”, tir dé đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra để khái quát về lĩnh vực này, mỗi khái niệm thể hiện một góc độ tiếp cận và nội dung khác nhau. Trước những năm 1950, công việc logistics chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ. Trong khi các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã có những chuyển biến rất lớn lao thì vẫn chưa hình thành một quan điểm khoa học về quan trị logistics một cách biệu quả.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và quản lý cuối thế ky 20 đã đưa logistics lên một tầm cao mới, có thể gọi đó là giai đoạn phục hưng của logistics. Những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, lý thuyết quản lý và công nghệ thông tin kể trên đã thúc đẩy logistics lớn mạnh theo thời gian về cả qui mô và tầm ảnh hưởng, tạo nên một làn sóng tư duy đổi mới về tất cả các khía cạnh của hoạt động này tại các doanh nghiệp từ những năm 1960 cho đến nay. Theo Jacques Colin — Giéo su vé khoa hoc quản lý thuộc trường Đại học Aix-Marseillea thì sự phát triển của logistics bắt đầu từ tác nghiệp — khoa học chỉ tiết — đến liên kết — khoa học tổng hợp, điều này đã được khẳng định trong lĩnh vực quân sự cũng như trong các doanh nghiệp. Xét theo quan điểm này thì logistics được hiểu là “Quá trình tỗi tru hóa về vị trí, vận chuyên và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyển cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.
Theo luật thương mại Việt Nam, điều 133: dich vu logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gém nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Phân loại các hoạt động logisfics Thế kỷ 21, logistics đã phát triển mở rộng sang nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại thường gặp: 1. Theo phạm vì và mức độ quan trọng Logistics kinh doanh (Business Logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng.
Logistics quân đội (Military Logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phương tiện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này. Logistics sy kiện (Event Logistics) 1a tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp. Dich vu logistics (Service Logistics) bao gdm cac hoạt động thu nhận, lập chương trình và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất, tài sản, con người và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình địch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh.
Theo vị trí của các bên tham gia Logistics bên thứ nhất (IPL - First Party Logistics) là hoạt động logistics do người chủ sở hữu sản phẩm, hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cần của bán thân doanh nghiệp. Logistics bén thir hai (2PL — Second Party Logistics) chi hoat déng logistics do ngudi cung cấp dich vy logistics cho mét hoat déng don lẻ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng. Logistics bén thir ba (3PL — Third Party Logistics) là người thay mặt chủ hàng tổ chức thực hiện và quản lý các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. Theo quá trình nghiệp vụ Hoạt động mua (Procurement) là các hoạt động liên quan đến việc tạo ra các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài.
Mục tiêu chung của hoạt động mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chỉ phí thấp. Hoạt động hỗ trợ sản xuất (Manufacturing Support) tập trung vào hoạt động quản trị dòng dự trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất. Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi phải là sản xuất như thế nào mà là cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra. Hoạt động phân phối ra thị trường (Market Distribution) liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ khách hàng.
Mục tiêu cơ bản của phân phối là hỗ trợ tạo ra doanh thu qua việc cung cấp mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược ở mức chỉ phí thấp nhất. Theo hướng vận động vật chất Logistics dau vao (Inbound Logistics) bao gm toan bé cdc hoat déng hỗ trợ dòng nguyên vật liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức. Logistics đầu ra (Outbound Logistics) bao gồm toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản phẩm đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức. Logistics ngược (Logistics Reserve) bao gồm các dòng sản phẩm, hàng hóa hư hỏng, kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong kênh logistics.
Theo đối tượng hàng hóa Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với các đặc trưng vật chất của các loại sản phẩm. Do đó, các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đồi hỏi các hoạt động logistics không giống nhau. Điều này cho phép các ngành hàng khác nhau có thể xây đựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hóa hoạt động logistics theo đặc trưng riêng của loại sân phẩm tùy vào mức độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các đối tượng hàng hóa khác nhau như: ©_ Logisties hàng tiêu dùng ngắn ngày Logistics ngành ô tô 90 Logistics ngành hóa chất 0 Logistics ngành điện tử 0 Logistics nganh dầu khí 0 Vv. Vị trí và vai trò của logistics Ngành logistics ngày càng có vai trò quan trọng trong các nẻn kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu.
Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn và tác động của nó thể hiện rõ đưới những khía cạnh dưới đây: 1. Đổi với nền kinh tỄ quốc dân Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đấy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa va dich vy trong nước và quốc tế. Hàng nghìn sản phẩm và địch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua.
Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và địch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Hệ théng logistics hién dai đã giúp cho các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời và chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu. Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Logistics hỗ trợ sự đi chuyển và đòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuận lợi trong việc bán hầu hết các loại hàng hóa và địch vụ. Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống này, ta có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí, và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không thể bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung cấp bị vô hiệu. Tiết kiệm và giảm chỉ phí trong lưu thông phân phối. Với tư cách là các tô chức kinh doanh cung cấp các địch vụ logistics chuyên nghiệp, các doanh nghiệp logistics mang lại đầy đủ các lợi ích của các third-party cho các ngành sản xuất và kinh doanh khác.
Từ đó mà mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ cung cấp mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho các quá trình lưu thông phân phối trong nền kinh tế.