Chương 1 trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại 2. Rủi ro tại ngân hàng thương mại Mehr và Cammack (1961) cho rằng rủi ro là sự không chắc chắn về những tổn thất có thể gặp trong tương lai. William và Prather (2010) thì cho rằng rủi ro là những biến cố không chắc chắn xảy ra và có thể ảnh hưởng tới các kết quả so với kỳ vọng.
Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng rủi ro là một sự không chắc chắn hay mô tả cho một tính trạng bất ổn. Nhưng không phải bất cứ sự bất trắc nào cũng được xem là rủi ro, những tình huống bất ổn hoặc không chắc chắn có thể tiên liệu được khả năng và xác suất xảy ra thì được xem là bất trắc chứ không phải rủi ro. Hay nói cách khác, rủi ro là những bất trắc không thể đo lường được bằng xác suất hoặc rủi ro là một tập hợp con của bất trắc. Do đó, khi áp dụng khái niệm này với ngành ngân hàng thì Fitch (1997) cho rằng rủi ro được xem là những sự việc xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh, nó gắn liền với sự suy giảm lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Rose (1999) cho rằng rủi ro tại ngân hàng chủ yếu gồm bốn loại chính là rủi ro tín dụng, lãi suất, tỷ giá và thanh khoản. Với đặc thù là tổ chức kinh doanh tiền tệ thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn xuất hiện tại mọi nghiệp vụ và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, đặc biệt là những tình huống mà ngân hàng không lường trước được. Do đó, nếu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng xảy ra với tần suất và quy mô lớn thì dễ dàng gây ra các hiệu ứng xấu kéo theo trên thị trường như chứng khoán, bất động sản, thương mại,… suy giảm theo. Bessis (2011) cũng cho rằng rủi ro đối với ngân hàng là những biến cố không được mong đợi khi chúng xuất hiện sẽ làm tổn thất tài sản, giảm sút thu nhập thực tế so với những gì mà ngân hàng kỳ vọng, điều này làm cho ngân hàng phải tiêu tốn thêm một khoản chi phí để hoàn thành được công việc hoặc sẽ phải chịu thua thiệt hoàn toàn.
8 Tóm lại, tại luận văn này thì rủi ro tại các NHTM được xem là các tình huống bất trắc, nằm ngoài ý muốn mà các NHTM không thể tính toán hay đo lường một cách chính xác sự xuất hiện của nó, rủi ro này gắn liền với sự suy giảm về lợi nhuận hay hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phá sản tại ngân hàng thương mại Altman (1968) cho rằng phá sản là tình trạng mà một tổ chức kinh doanh bị mất đi khả năng thanh toán với các khoản nợ, bị các cơ quan có thẩm quyền thường là tòa án quyết định tuyên bố phá sản. Ngoài ra, phá sản còn được xem là thủ tục pháp lý liên quan đến tổ chức kinh doanh giải quyết tình trạng mất cân đối và không có khả năng thanh toán. Heffernan và cộng sự (2005) cho rằng phá sản là tình trạng mà doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất dần khả năng thanh toán, các khoản nợ phải trả vượt quá giá trị tài sản hay tài sản ròng bị âm.
Tuy nhiên, khái niệm phá sản của doanh nghiệp nói chung cần được xem xét lại khi áp dụng cho bối cảnh của NHTM. Nếu là một tổ chức doanh nghiệp đơn thuần khác thì khái niệm của Altman (1968); Heffernan và cộng sự (2005) chỉ ra nếu mất khả năng thanh toán kéo dài thì sẽ dẫn đến phá sản. Nhưng đối với các NHTM thì khác nhau vì tổ chức này hoạt động trong lĩnh vực tài chính và kinh doanh tiền tệ, đồng thời với vai trò là trung gian tài chính cho các đối tượng của cả nền kinh tế, do đó hoạt động kinh doanh tại ngân hàng rất nhạy cảm và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế hay các đối tượng trong đó. Vì vậy, khi một ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán sẽ làm hiệu ứng lan truyền đến cả các ngân hàng khác (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Chính vì vậy Chính phủ và NHNN sẽ phải kiểm soát rất chặt chẽ đến HĐKD của ngân hàng nhằm tạo sự ổn định của hệ thống tiền tệ và hạn chế khủng hoảng, do đó đối với các ngân hàng thì trường hợp xảy ra khủng hoảng thì các đơn vị quản lý phải ra sức thực hiện các biện pháp khác nhau để đưa ngân hàng thoát khỏi tình cảnh khó khăn, tình huống xấu nhất cuối cùng mới là phá sản thực sự xảy ra. Martin (1998) khi nghiên cứu về các NHTM thì cho rằng phá sản tại tổ chức này thực 9 sự diễn ra khi giá trị tài sản ròng bị âm, nếu tiếp tục hoạt động thì dẫn tới thiệt hại chồng chất cho ngân hàng cũng như các đối tượng liên quan. Nhưng hầu hết các rủi ro của ngân hàng sẽ được các đơn vị chức năng tầm Chính phủ hoặc Ngân hàng Trung ương giải quyết bằng những cách không để phá sản theo nghĩa hợp pháp. Khi đó, hoạt động giám sát hay sáp nhập ngân hàng đó vào một ngân hàng mạnh hơn theo ý kiến của cơ quan quản lý, được áp dụng thường xuyên hơn là tuyên bố phá sản.
Kaufman và Cato (1996) cũng cho rằng một NHTM bị đánh giá thấp trên thị trường, giá trị tài sản giảm thấp hơn giá trị phải trả nợ cho các đối tượng liên quan vì vậy giá trị ròng của NHTM âm. Vào lúc này các ngân hàng sẽ không thể trả được các khoản tiền gửi huy động cho khách hàng hay được gọi là mất dần khả năng thanh toán. Nhưng các ngân hàng không nộp đơn xin phá sản, mà các cơ quan có chức năng quản lý sẽ tiến hành biện pháp buộc phải sáp nhập, nhằm kiểm soát rủi ro lan rộng. Tóm lại, tại luận văn này thì phá sản của ngân hàng theo hai khía cạnh.
Xét khía cạnh hẹp thì khi ngân hàng không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn bằng nguồn vốn tự có của mình và nộp đơn đến cơ quan chức năng xin phá sản. Theo khía cạnh rộng thì khi ngân hàng bị các ngân hàng khác mạnh hơn mua lại, sáp nhập hay chỉ định sáp nhập từ cơ quan chức năng thì đây được xem là sự phá sản. Rủi ro phá sản tại ngân hàng thương mại Rủi ro phá sản hay nguy cơ phá sản là hàm ý tổng hợp các bất trắc, rủi ro của ngân hàng diễn ra liên tục làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, suy giảm hoạt động, giá trị ròng âm và buộc đối mặt sự đóng cửa. Shaffer (2012) cho rằng các ngân hàng gặp rủi ro phá sản hay nguy cơ thất bại khi tập hợp các rủi ro cùng một lúc, tăng giảm rủi ro này bằng cách điều chỉnh các nhân tố rủi ro trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản hay rủi ro hoạt động.
Nguyễn Thành Dương (2013) cho rằng khi ngân hàng bị giảm đi nguồn thu nhập, các chi phí tăng thêm sẽ dẫn đến thâm hụt vốn, dần dần đi đến tình trạng khánh kiệt và phải 10 đối mặt với rủi ro cao dẫn đến phá sản. Phạm Tiến Đạt (2013) cho rằng rủi ro phá sản của ngân hàng khi không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột giá trị tài sản từ hậu quả đến từ nhiều loại rủi ro khác, nguyên nhân đến từ năng lực quản lý yếu kém, các khoản vay không thu hồi được, các hoạt động đầu tư thiếu hiệu quả hay thua lỗ, suy thoái kinh tế… chính vì vậy các nguy cơ về thanh toán xuất hiện và sự vỡ nợ đến từ nhiều nguyên nhân. Tóm lại, tại luận văn này thì rủi ro phá sản tại NHTM là khi các ngân hàng đứng trước nguy cơ nộp đơn với cơ quan chức năng để xin phá sản, hoặc bị kiểm soát, bắt buộc sáp nhập theo chỉ thị của Chính phủ hoặc Ngân hàng Trung ương. Rủi ro phá sản tại ngân hàng xảy ra từ nhiều nguyên nhân hay các rủi ro khác trong hoạt động của ngân hàng.
Hay nói cách khác khi các rủi ro xảy ra, các ngân hàng ngày bị đột biến các chi phí và những biến cố cần xử lý dẫn đến khánh kiệt tài chính, biểu hiện đầu tiên là không đủ VCSH để bù đắp, đến thời điểm không đủ sức thanh toán các khoản nợ phải trả và giá trị tài sản giảm xuống đến mức âm, khả năng thanh khoản mất đi. Chỉ tiêu đo lường rủi ro phá sản tại các ngân hàng thương mại Beaver (1966) cho rằng một dấu hiệu rõ rệt để thấy một doanh nghiệp phá sản là khi đó họ không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn như nợ vay ngân hàng, trái phiếu. Ngoài ra là các khoản cổ tức của cổ phiếu thông thường và ưu đãi không thể thanh toán cho các cổ đông. Do đó, Beaver (1966) đã tiến hành phân loại hai nhóm doanh nghiệp phá sản và không bị phá sản và phân tích 6 chỉ số tài chính đó là tỷ lệ dòng tiền trên tổng nợ, tỷ suất sinh lời ROA, tỷ lệ nợ trên tài sản, tỷ lệ vốn lưu động trên tài sản, tỷ lệ thanh toán hiện hành, khoản phi tín dụng, kết quả các chỉ số này giữa hai nhóm doanh nghiệp có sự khác biệt.
Kế thừa kết quả này thì Altman (1968) đã đưa ra hệ số Z – Score là sự kết hợp của 5 chỉ số tài chính khác nhau với các trọng số không giống nhau, hệ số này thường được ứng với các doanh nghiệp có sự cổ phần hóa. Tuy nhiên, Altman (1968) cũng cho rằng hệ số Z – Score của mình không áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng vì mức độ nhạy cảm và rủi ro hệ thống rất cao.