CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH CAMELS 1. Tổng quan về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại 1. Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Hằng Nga với đề tài “Năng lực tài chính tại các NHTM Việt Nam” năm 2013 đã định nghĩa Năng lực tài chính của NHTM là “khả năng tài chính để ngân hàng thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả”. Tuy nhiên, định nghĩa trên của tác giả Phan Thị Hằng Nga vẫn còn mang tính khái quát rộng khi chưa giải thích được tài chính của NHTM đến từ đâu cũng như hoạt động kinh doanh thế nào là hiệu quả.
Một định nghĩa khác về Năng lực tài chính của NHTM trong đề tài nghiên cứu “Nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lã Thị Lâm đã chỉ ra rằng Năng lực tài chính của NHTM là “khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn để đáp ứng tối đa nhu cầu trong hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra của NHTM”. Với định nghĩa trên, tác giả Lã Thị Lâm đã làm rõ vấn đề tài chính của NHTM đến từ quá trình tạo lập nguồn vốn của ngân hàng và để đáp ứng nhu cầu trong hoạt động kinh doanh thì ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạo lập được để đáp ứng. Cùng với đó, một điểm khác biệt nữa trong định nghĩa về Năng lực tài chính của NHTM của tác giả Lã Thị Lâm chính là việc sử dụng nguồn tài chính để thực hiện mục tiêu đặt ra của NHTM mà không chỉ để hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả như tác giả Phan Thị Hằng Nga đề cập. Từ việc xâu chuỗi hai định nghĩa trên, thông qua tìm hiểu quá trình phân tích để đến được định nghĩa này của hai tác giả, kết hợp với đặc điểm, khái niệm của ngân hàng thương mại, bản thân tác giả định nghĩa lại, nhằm làm rõ hơn về Năng lực tài chính của NHTM: “Năng lực tài chính của NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn để đáp ứng mục tiêu, chiến lược trong quá trình hoạt động 7 kinh doanh của chính NHTM nhằm hướng đến cái đích cuối cùng là lợi nhuận và quản trị rủi ro”.
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng thương mại Môi trường vĩ mô Môi trường nhân khẩu học (Demographic environment): Nhân khẩu học là khoa học nghiên cứu về dân số trên các khía cạnh như: quy mô dân số, mật độ phân bố dân cư, tuổi tác, giới tính, chủng tộc nghề nghiệp,… Những yếu tố đặc biệt quan trọng với ngân hàng trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh như địa điểm mở chi nhánh, thiết kế sản phẩm phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Môi trường chính trị và pháp luật: Các chính sách của Chính phủ cũng như những văn bản pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng. Sự ổn định của Chính phủ, sự đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật sẽ tạo ra một môi trường nơi các ngân hàng kinh doanh giao dịch trong và ngoài nước một cách an toàn, đảm bảo, thuận lợi từ đó tăng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế là một yếu tố chính ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một ngân hàng thương mại.Có thể kể đến các chỉ số tiêu biểu: GDP, GNP, BOP, CPI, chỉ số lạm phát, lãi suất. Sự thay đổi của môi trường kinh tế có tác động hai chiều,, vừa là thách thức, nhưng cũng vừa là cơ hội đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Môi trường văn hóa, xã hội: Việc hội nhập và giao lưu văn hóa có thể dẫn đến những thay đổi ít nhiều tuy nhiên việc nắm rõ văn hóa – xã hội sẽ giúp ngân hàng hoạch định được chiến lược kinh doanh và thiết kế sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng khu vực, địa bàn. Môi trường công nghệ - kỹ thuật: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật về mọi mặt: Máy móc, thiết bị, công nghệ, viễn thông, thúc đẩy các ngân hàng cần phải cải tiến và nắm bắt chúng một cách nhanh chóng để tạo lợi thế trước các đối thủ cạnh 8 tranh, giảm thiểu chi phí đầu vào và tăng doanh thu đầu ra đặc biệt qua việc nâng cao trải nghiệm người dùng. Môi trường tự nhiên: Những yếu tố tự nhiên như thảm họa, thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến chính sách và hoạt động của bộ máy ngân hàng. Ví dụ rõ nét nhất chính là ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19 đang hoành hành thế giới trong năm qua, nó không chỉ ảnh hưởng đến con người, mà còn ảnh hưởng cực mạnh tới nền kinh tế khi khiến nền kinh tế ở nhiều quốc gia bị trì trệ, xuất nhập khẩu bị đóng cửa, bị kiểm soát gắt gao, tỉ lệ tăng trưởng ở hầu hết tất cả quốc gia bị giảm xuống và làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng.
Môi trường vi mô Bản thân ngân hàng: Đây là nhân tố nội tại, nhân tố chính ảnh hướng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Năng lực tài chính, Năng lực quản trị, Trình độ - chất lượng nhân viên, Khả năng thích ứng với những sự thay đổi, biến động của thị trường, của nền kinh tế. nếu một ngân hàng có thể làm tốt đồng thời những mặt trên, ngân hàng đó có thể đảm bảo được sự hoạt động ổn định, sẽ thu hút được khách hàng – đối tác, và nâng cao được tốc độ phát triển của mình. Các đơn vị hỗ trợ cho hoạt động ngân hàng: Những hoạt động như marketing, phương tiện kỹ thuật, giao thông vận tải,…những hoạt động mà ngân hàng không thể tự đảm bảo thì nay, với việc hỗ trợ, cung cấp của những đơn vị hỗ trợ sẽ đảm bảo cho ngân hàng hoạt động ổn định, không bị gián đoạn từ đó tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Khách hàng: Đây là nhân tố không thể thiếu và là cốt lõi của môi trường vi mô.
Nguồn vốn của ngân hàng đến chủ yếu từ hoạt động huy động vốn từ khách hàng, và doanh thu của ngân hàng đến chủ yếu từ các hoạt động tín dụng với khách hàng – đối tác (trung gian luân chuyển vốn từ chủ thế dư thừa vốn tới chủ thể cần vốn trong nền kinh tế), chính vì thế, việc nắm bắt được nhu cầu, mong muốn, thói quen, hành vi, thông tin về khách hàng là chìa khóa để một ngân hàng hay một 9 doanh nghiệp bất kỳ xây dựng các chiến lược kinh doanh đúng đắn, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh: Với một ngân hàng thương mại, đối thủ cạnh tranh không chỉ đến từ những ngân hàng thương mại khác trong nước, mà còn đến từ những ngân hàng thương mại, những tổ chức tín dụng cả trong và ngoài nước. Cuộc chiến để tranh giành thị phần là một cuộc chiến không hồi kết. Vì vậy, nắm bắt rõ đối thủ của mình là một trong những cách giúp ngân hàng chủ động hơn trong việc xây dựng chiến lược và tổ chức cơ cấu “Biết người biết ta/Trăm trận trăm thắng” 1.
Phân tích năng lực tài chính theo mô hình Camels 1. Nguồn gốc và các chỉ tiêu của mô hình Camels 1. Nguồn gốc của Camels Hệ thống đánh giá CAMELS do Cục Quản lý các tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ (National Credit Union Administration - NCUA) xây dựng và được thông qua năm 1987, song không chỉ có Hoa Kỳ mà còn có nhiều nước trên thế giới áp dụng. Sau khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, hệ thống CAMELS được Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhóm Ngân hàng Thế giới khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một trong các biện pháp để tái thiết khu vực tài chính.
Hệ thống đánh giá này được sử dụng bởi ba giám sát ngân hàng liên bang (Cục Dự trữ Liên bang, Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) và Văn phòng kiểm soát tiền tệ (OCC) và các cơ quan giám sát tài chính khác để cung cấp các thông tin ngân hàng tại một thời điểm. Mô hình đánh giá CAMELS chủ yếu dựa trên các yếu tố tài chính, thông qua thang điểm để đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính. Ban đầu, việc đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: Mức độ an toàn vốn (C), Chất lượng tài sản (A), Quản trị điều hành (M), Kết quả hoạt động kinh doanh (E) và Khả năng thanh khoản của tổ chức tài chính (L). Thành phần thứ sáu - Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường của ngân hàng (S), đã được bổ sung vào năm 1997.
Kết quả của cuộc nghiên cứu được chia thành 5 nhóm từ 1 đến 5 với mức thể hiện năng lực tài chính giảm dần, từ đó sẽ giúp các nhà quản lý ngân hàng cũng như các nhà đầu tư khác biết được thực trạng “sức khỏe” của từng ngân hàng và có các quyết định phù hợp. 10 Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới đã tiên phong trong việc điều chỉnh hệ thống phân tích, đánh giá các TCTD trên cơ sở của mô hình CAMELS bằng cách bổ sung thêm các yếu tố phi tài chính vào hệ thống phân tích, điển hình trong số đó là Nhật Bản. Trước đây, Việt Nam không áp dụng trực tiếp CAMELS, cho đến khi thành lập Quy chế xếp loại các Tổ chức tín dụng Việt Nam (1998) thì CAMELS đã được công nhận và được áp dụng như một công cụ hiệu quả nhất. Chỉ tiêu mô hình CAMELS a) Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu - CAR Tỷ lệ này cho biết khả năng của ngân hàng đối phó với các loại rủi ro, khả năng “bảo hiểm” cho việc phải chịu tác động bất lợi từ thị trường ảnh hưởng đến.
Tỷ lệ này trong hiệp ước BASEL II và III có điều chỉnh một số chỉ tiêu trong cách tính tổng tài sản điều chỉnh rủi ro, tuy nhiên mức tối thiểu về giá trị CAR vẫn được giữ nguyên ở mức 8%. Tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 Vốn cấp 1, hay còn gọi vốn nòng cốt hoặc vốn cơ bản, là một loại vốn tự có của một tổ chức tín dụng. Về cơ bản, vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của tổ chức đó cũng như phần lợi nhuận không chia.