MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với việc nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, những năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam liên tục duy trì tăng trưởng GDP ở mức ấn tượng đã thu hút được rất nhiều sự chú ý của thế giới, điều này được thể hiện ở việc dòng vốn nước ngoài những năm qua liên tục chảy vào nước ta. Khi đất nước phát triển, nền kinh tế cũng sẽ phát triển theo, đồng thời với việc nước ta sẽ phải tiếp cận với các thị trường tài chính lớn, sản phẩm tài chính mới nên chính phủ và nhà nước sẽ ngày càng chú trọng đến các thị trường tài chính, hàng hóa,… nhiều hơn để có thể tránh khỏi các rủi ro không đáng có khi biến động xảy ra. Thị trường chứng khoán đóng vai trò hết sức quan trọng trong định hướng này.
Thị trường chứng khoán là một kênh dẫn vốn dễ dàng cho nền kinh tế, cả trực tiếp và gián tiếp, là phong vũ biểu của nền kinh tế phản ánh sự tác động của các chính sách vĩ mô. TTCK của chúng ta đến nay đã trải qua 23 năm, đã có những bước tiến vượt bậc so với những ngày đầu mới thành lập nhưng vẫn chỉ là một thị trường non trẻ và vẫn còn tồn tại không ít rủi ro. Nếu nói khi TTCK phát triển thì rủi ro không còn sẽ không đúng, TTCK là nơi luôn chứa đựng rủi ro. Khi những nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán chỉ quan tâm đến mối quan hệ giữa “lợi nhuận và rủi ro”.
Nhưng chỉ có phần ít các nhà đầu tư trên TTCK có thể cân bằng được cả hai yếu tố trong mối quan hệ này và đem lại lợi nhuận ổn định cho mình. Ở chiều ngược lại, phần lớn các nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà ít quan tâm đến rủi ro trong quá trình đầu tư hoặc là các NĐT chỉ đầu tư theo tin tức, theo cảm tính và không có chiến lược gì để quản trị rủi ro hay không biết gì về rủi ro trong chính danh mục đầu tư của mình và điều đấy khiến hoạt động đầu tư của họ không đạt được hiệu quả cao. Vì vậy, để đầu tư một cách hiệu quả các nhà đầu tư cần phải có những phương pháp để có thể đo lường được rủi ro và lợi nhuận khi thực hiện đầu tư vào danh mục của mình. Hệ số Beta được coi là hệ số đặc trưng cho mức độ rủi ro hệ thống của chứng khoán và được các tổ chức tài chính, các công ty chứng khoán 1 công bố, được hồi quy từ dữ liệu của thị trường.
Nếu thị trường hiệu quả, hệ số Beta có thể chỉ dẫn tốt cho các nhà đầu tư và có mối liên hệ mật thiết với tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp trong đầu tư. Chính vì vậy việc xem xét ứng dụng các mô hình đầu tư tài chính vào để thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa các hệ số beta được công bố với tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết đã thúc đẩy tác giả chọn đề tài: “Mối tƣơng quan giữa hệ số beta (β) và tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2021”. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi ngiên cứu Lợi nhuận và rủi ro thường được biết đến là một mối quan hệ hai chiều, lợi nhuận tác động đến rủi ro và ngược lại. Nhưng trong thực tế mối quan tương quan này liệu có đúng hoàn toàn và thường xuyên không? Bài nghiên cứu nhằm xem xét rõ hơn trong thị trường thực tế hệ số Beta đã được công bố trên TTCK có mối tương quan như thế nào đối với tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán.
Từ đó đưa ra một số kết luận khách quan giúp các nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán có thể xây dựng một chiến lược đầu tư hiệu quả. Bài nghiên cứu sẽ trả lời cho các câu hỏi: Thứ nhất, hệ số beta được công bố trên thị trường có mối tương quan như thế nào đối với tỷ suất sinh lời doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán? Từ đó rút ra kết luận về mức độ tin cậy của hệ số beta công bố. Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của hệ số beta đến tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp như thế nào khi được xem xét thêm các yếu tố như quy mô doanh nghiệp và giá trị nội tại của doanh nghiệp? 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp hồi quy định lượng để đưa ra kết quả đánh giá và kết luận cơ sở từ các số liệu được cung cấp và từ thực trạng các các công ty trên sàn.
Phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên dữ liệu bảng, được tổng hợp từ năm 2009 – 2021 để thực hiện mô hình hồi quy đơn biến và đa biến, và sử dụng các mô hình ước lượng trong dữ liệu bảng như Pooled OLS, Fixed Effects (FEM) và mô hình Random Effects (REM) để tìm ra kết quả phù hợp với hô hình nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính: là hệ số beta đã được công bố trên thị trường chứng khoán của 100 doanh nghiệp niêm yết. Ngoài ra tác giả cũng xem xét thêm ảnh hưởng của các yếu tố như quy mô vốn hóa doanh nghiệp, giá trị công ty đối với tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán. Các mã cổ phiếu này là 100 cổ phiếu được niêm yết trên sàn HOSE từ năm 2009 và vẫn còn được phép giao dịch trên sàn HOSE đến năm 2021.
Danh mục các mã không xét theo quy mô vốn hóa của các mã ở thời điểm hiện tại thực hiện nghiên cứu nhằm đảm bảo dữ liệu nghiên cứu có sự liên tục, không bị ngắt quãng. Các mã được lọc ở đầy đủ các ngành theo bộ tiêu chí phân ngành của sàn HOSE để đảm bảo tính thị trường của nghiên cứu. Khoảng trống nghiên cứu Qua việc tìm hiểu những nghiên cứu liên quan đến đề tài cả trong và ngoài nước trước đây, có thể nhận thấy rằng đề tài nghiên cứu về sự tương quan giữa tỷ suất sinh lời qua hệ số Beta không phải là đề tài mới. Có rất nhiều đề tài nghiên cứu và có các cách tiếp cận khác nhau được thực hiện như so sánh hệ số beta các ngành khác nhau và chỉ ra tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trong các ngành đó hay hệ số Beta ảnh hưởng như thế nào đến tần suất giao dịch trong đầu tư của các nhà đầu tư,.
Phần lớn các đề tài trong nước đều tập trung vào các ước lượng hệ số beta và việc thể hiện sự phù hợp của các mô hình như CAPM, Fama-French ở Việt Nam. Tuy nhiên lại ít đề tài nghiên cứu về việc mối quan hệ từ sử dụng các hệ số beta đã được công bố ảnh hưởng, tương quan như thế nào đối với tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trong tương lai, từ đó xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả. Do đó, có thêm đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố lợi nhuận và rủi ro đóng góp thêm vào góc nhìn cho các nhà đầu tư trên thị trường là cần thiết, sẽ giúp các nhà đầu tư có thể đưa ra thêm các quyết định đầu tư hiệu quả. Phạm vi nghiên cứu 3 Thời gian: Số liệu là hệ số beta, quy mô vốn hóa, hệ số B/P và tỷ suất sinh lời được thu thập từ các nguồn công ty chứng khoán, các công ty phân tích trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong khoản thời gian từ năm 2009 – năm 2021.
Kết cấu luận văn Luận văn được chia làm 4 Chương: ❖Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về mối tương quan giữa hệ số Beta với tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2021. ❖Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. ❖Chƣơng 3: Tổng quan thị trường chứng khoán, thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 – 2021 và Kết quả phân tích mối tương quan giữa hệ số beta (β) và tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. ❖Chƣơng 4: Kết luận rút ra và một số khuyến nghị từ nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ số beta (β) và tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HỆ SỐ BETA VÀ TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN 1. Cơ sở lý luận về thị trƣờng chứng khoán 1. Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán (TTCK) là một yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế hiện nay. Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều có TTCK.
Đối với các nước phát triển thì TTCK đã có tuổi đời hàng trăm năm, nó đóng góp không nhỏ vào việc phát triển kinh tế của đất nước. Thị trường chứng khoán là nơi để những người có nhu cầu giao dịch mua bán chứng khoán thực hiện nhu cầu của mình. Có hai dạng thị trường, một là thị trường sơ cấp/ thị trường phi tập trung – đây là nơi người mua và người bán tự tìm kiếm vào giao dịch với nhau thông qua các hợp đồng dân sự, và không có cơ quan, tổ chức nào quản lý, hướng dẫn, đảm bảo cho các giao dịch này. Hai là thị trường chứng khoán thứ cấp/ thị trường tập trung – đây thị trường mà các giao mua bán của những người tham gia thị trường được tập trung lại và chịu sự quản lý của các tổ chức có thẩm quyền của nhà nước nhằm đảm bảo tính minh bạch, an toàn, bảo vệ lợi ích của các thành viên tham gia trên thị trường.Các chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú.