Tổng quan nghiên cứu

Thị trường năng lượng toàn cầu trong giai đoạn 2006 - 2015 đã trải qua nhiều biến động sâu sắc, tiêu biểu là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 - 2008 và làn sóng cách mạng dầu đá phiến tại Hoa Kỳ vào quý 3 năm 2014 khiến giá dầu thô Brent sụt giảm hơn 50%, rơi từ đỉnh 112 USD/thùng xuống dưới mức 50 USD/thùng vào tháng 8 năm 2015. Đối với một nền kinh tế đang phát triển và có độ mở thương mại cao như Việt Nam – quốc gia vừa xuất khẩu dầu thô vừa nhập khẩu các sản phẩm dầu tinh chế – sự bất ổn của giá dầu quốc tế tạo ra những tác động trực tiếp và phức tạp đến nguồn thu ngân sách, cán cân thanh toán cũng như kỳ vọng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ mối quan hệ phụ thuộc phi tuyến, tính chất cân bằng dài hạn và cơ chế truyền dẫn tác động giữa giá dầu thô quốc tế, tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng và chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam (VN-Index).

Mục tiêu cụ thể của luận văn là kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ đồng tích hợp phi tuyến có gãy cấu trúc, đánh giá mối quan hệ nhân quả một chiều hoặc hai chiều và ước lượng tốc độ điều chỉnh của thị trường chứng khoán về trạng thái cân bằng dài hạn sau các cú sốc năng lượng. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi dữ liệu theo ngày với 2.328 quan sát liên tục trong thời gian gần 10 năm, từ ngày 03/01/2006 đến ngày 31/08/2015, đồng thời chia tách thành 4 giai đoạn kinh tế trọng điểm. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong bối cảnh vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc từ mức 22,7% GDP vào năm 2006 lên xấp xỉ 31% GDP trong giai đoạn 2013 - 2014, cung cấp cơ sở khoa học để các nhà điều hành chính sách kinh tế vĩ mô và nhà đầu tư xây dựng chiến lược phòng vệ rủi ro hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết định giá tài sản vốn và mô hình dòng tiền chiết khấu (Discounted Cash Flow - DCF), trong đó giá cổ phiếu phản ánh giá trị hiện tại của dòng tiền kỳ vọng trong tương lai của doanh nghiệp. Biến động giá dầu thô tác động trực tiếp lên chi phí đầu vào của các ngành sản xuất, vận tải và doanh thu của các doanh nghiệp khai thác dầu khí, từ đó làm thay đổi dòng tiền kỳ vọng và giá trị thị trường của cổ phiếu niêm yết. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết cân bằng thị trường tài sản và điều kiện ngang giá lãi suất của nền kinh tế mở, giải thích vai trò của tỷ giá hối đoái như một kênh truyền dẫn điều chỉnh dòng vốn đầu tư gián tiếp và cân bằng tài khoản vãng lai.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm kinh tế lượng then chốt:

  • Đồng tích hợp phi tuyến có gãy cấu trúc (Nonlinear Cointegration with Structural Breaks): Phản ánh mối liên kết cân bằng dài hạn giữa các chuỗi thời gian không dừng khi xuất hiện sự thay đổi về chế độ kinh tế hoặc chính sách vĩ mô.
  • Kiểm định nhân quả Granger mở rộng (Toda-Yamamoto Granger Non-causality): Xác định khả năng dự báo của giá trị quá khứ từ một biến số lên giá trị tương lai của biến số khác mà không phụ thuộc vào bậc tích hợp của chuỗi.
  • Mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model - ECM): Công cụ đo lường đồng thời mối quan hệ động trong ngắn hạn và tốc độ phục hồi về mức cân bằng dài hạn của hệ thống sau các cú sốc.
  • Tính ngoại sinh của biến năng lượng: Kiểm định vai trò của giá dầu thế giới như một biến độc lập tác động một chiều lên thị trường tài chính nội địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu chuỗi thời gian theo ngày với quy mô 2.328 quan sát thu thập từ Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE), Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV). Phương pháp chọn mẫu là thu thập toàn bộ dữ liệu giao dịch hàng ngày liên tục trong giai đoạn từ ngày 03/01/2006 đến ngày 31/08/2015. Bộ dữ liệu được chuyển hóa sang dạng logarit tự nhiên (ký hiệu Lvni, Loil, Lex) nhằm ổn định phương sai và đưa chuỗi về dạng phân phối gần chuẩn.

Lý do lựa chọn phương pháp kinh tế lượng bắt đầu từ việc kiểm định nghiệm đơn vị thông qua 3 phương pháp kiểm tra chéo: Augmented Dickey-Fuller (ADF), Phillips-Perron (PP) và Kwiatkowski-Phillips-Schmidt-Shin (KPSS), cho thấy tất cả các chuỗi đều dừng ở sai phân bậc 1, tức I(1). Nhận thấy chuỗi dữ liệu trải qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 - 2008 và cú sốc giá dầu năm 2014, phương pháp kiểm định đồng tích hợp Gregory và Hansen (1996) với mô hình dịch chuyển chế độ (Regime Shift) được lựa chọn nhằm khắc phục nhược điểm mất tính vững của kiểm định Engle-Granger truyền thống khi có điểm gãy cấu trúc. Quy trình Toda-Yamamoto (1995) trong mô hình VAR tăng cường bậc (k + dmax) được áp dụng để kiểm định quan hệ nhân quả không phụ thuộc vào bậc tích hợp, kết hợp mô hình ECM để ước lượng phương trình hiệu chỉnh sai số ngắn hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kiểm định Gregory và Hansen (1996) trên toàn bộ mẫu 2.328 quan sát đã bác bỏ giả thuyết không có đồng tích hợp ở mức ý nghĩa thống kê 5%, xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ cân bằng dài hạn phi tuyến giữa giá dầu Brent, tỷ giá hối đoái USD/VND và chỉ số VN-Index khi có tính đến sự dịch chuyển chế độ kinh tế.

Thứ hai, khi kiểm định riêng lẻ trên 4 giai đoạn con (Giai đoạn 1 tiền khủng hoảng với 485 quan sát; Giai đoạn 2 khủng hoảng với 481 quan sát; Giai đoạn 3 phục hồi với 1.077 quan sát; Giai đoạn 4 dầu đá phiến với 285 quan sát), giả thuyết không có đồng tích hợp lại không bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng minh các biến cố kinh tế lớn đã làm gián đoạn cấu trúc cân bằng dài hạn, khiến các biến số không thể thiết lập trạng thái ổn định trong các khoảng thời gian ngắn hạn.

Thứ ba, kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ tác động một chiều từ giá dầu thô sang chỉ số VN-Index trong toàn bộ mẫu, giai đoạn 2 (2008 - 2009) và giai đoạn 3 (2010 - 2014). Biến số giá dầu thô đóng vai trò là biến ngoại sinh đối với thị trường tài chính Việt Nam.

Thứ tư, ở giai đoạn 4 (2014 - 2015), khi giá dầu lao dốc hơn 50%, kết quả thống kê lại cho thấy giá dầu không gây ra quan hệ nhân quả Granger đối với VN-Index. Mô hình ECM ước lượng cho thấy giá dầu có tác động cùng chiều với VN-Index trong ngắn hạn, tuy nhiên tốc độ điều chỉnh sai số về trạng thái cân bằng dài hạn diễn ra tương đối chậm, với hệ số xấp xỉ gần mức 0.

Thảo luận kết quả

Mối quan hệ cùng chiều giữa giá dầu và VN-Index trong ngắn hạn được phản ánh rõ qua dữ liệu cơ cấu vốn hóa: nhóm doanh nghiệp dầu khí niêm yết (như GAS, PVD, PVS, PVT) chiếm tỷ trọng khoảng 6% đến 7% tổng vốn hóa toàn sàn HOSE vào năm 2015. Khi giá dầu thế giới sụt giảm mạnh, giá cổ phiếu của các doanh nghiệp đầu ngành này sụt giảm nghiêm trọng, kéo theo tâm lý tiêu cực bao trùm toàn thị trường chứng khoán trong ngắn hạn. Sự tương quan này có thể được quan sát trực quan qua đồ thị chuỗi thời gian so sánh diễn biến lao dốc đồng pha giữa chỉ số VN-Index và giá dầu Brent trong giai đoạn khủng hoảng 2008 - 2009 (khi VN-Index chạm đáy 235,5 điểm vào tháng 2/2009).

Nguyên nhân giá dầu không gây ra quan hệ nhân quả Granger đối với VN-Index trong giai đoạn 2014 - 2015 xuất phát từ cơ chế bù trừ lợi ích kinh tế giữa các nhóm ngành. Trong khi ngành dầu khí chịu tổn thất doanh thu lớn, các ngành sản xuất, nhựa, vận tải và tiêu dùng (chiếm tổng cộng hơn 40% vốn hóa) lại được hưởng lợi trực tiếp nhờ giá nguyên liệu đầu vào giảm sâu, giúp cải thiện biên lợi nhuận ròng. Kết quả này bổ sung góc nhìn mới so với các nghiên cứu thị trường mới nổi tại châu Á, khẳng định cấu trúc đa ngành của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra tấm đệm giảm xóc tự nhiên trước các cú sốc năng lượng toàn cầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước nhằm giảm mức độ tổn thương trước các cú sốc giá dầu thô. Bộ Tài chính cần chủ động giảm tỷ trọng đóng góp từ xuất khẩu dầu thô vào ngân sách quốc gia (thực tế trong 8 tháng đầu năm 2015, sản lượng xuất khẩu đạt 11,9 triệu tấn nhưng kim ngạch chỉ đạt 3,05 tỷ USD, sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2014), đồng thời mở rộng cơ sở thu thuế từ khu vực sản xuất kinh doanh nội địa và dịch vụ nhằm duy trì thâm hụt ngân sách dưới ngưỡng 5% GDP trong giai đoạn trung hạn.

Thứ hai, gia tăng năng lực tự chủ nguồn cung năng lượng và đẩy mạnh chế biến sâu. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ nâng công suất chế biến của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất từ 140.000 thùng/ngày lên mức 200.000 thùng/ngày trước năm 2017, đồng thời hoàn thành các tổ hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn và Vũng Rô nhằm hạ thấp tỷ trọng nhập khẩu xăng dầu thành phẩm hiện đang chiếm trên 70% tổng nhu cầu tiêu thụ nội địa.

Thứ ba, thiết lập và chuẩn hóa các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính phái sinh hàng hóa. Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng khung pháp lý toàn diện cho phép các doanh nghiệp vận tải, hóa chất và năng lượng tham gia các hợp đồng hoán đổi (swaps), hợp đồng tương lai (futures) và hợp đồng quyền chọn (options) giá dầu trên sàn quốc tế để cố định chi phí sản xuất khi giá hàng hóa biến động trên 20% mỗi chu kỳ.

Thứ tư, nâng cao tính thanh khoản và đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ cao, bán lẻ và năng lượng tái tạo niêm yết cổ phiếu, nhằm pha loãng mức độ tập trung vốn hóa của nhóm dầu khí và tài chính - ngân hàng (hiện chiếm gần 50% vốn hóa), hướng tới mục tiêu phát triển quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt trên 50% GDP vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô: Sử dụng khung phân tích tác động truyền dẫn của giá dầu và tỷ giá để xây dựng kịch bản điều hành tỷ giá linh hoạt trong biên độ +/- 3%, đồng thời chủ động các giải pháp cân đối thu chi ngân sách trước các biến động địa chính trị toàn cầu.
  • Các quỹ đầu tư tài chính và nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp: Vận dụng kết quả kiểm định nhân quả và mô hình điều chỉnh cân bằng ngắn hạn để xây dựng chiến lược phân bổ danh mục, thực hiện tái cân bằng giữa nhóm cổ phiếu khai khoáng và nhóm cổ phiếu sản xuất tiêu dùng trong các giai đoạn sốc giá dầu.
  • Ban lãnh đạo các doanh nghiệp ngành năng lượng, vận tải và logistics: Tham khảo các phân tích chuỗi thời gian để dự báo xu hướng chi phí đầu vào, từ đó thiết lập chính sách tồn kho và áp dụng các công cụ phòng hộ giá nguyên liệu trong chu kỳ sản xuất từ 3 đến 6 tháng.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng luận văn như một nghiên cứu mẫu mực về việc ứng dụng kiểm định đồng tích hợp phi tuyến Gregory-Hansen, kiểm định Toda-Yamamoto và mô hình ECM trên mẫu dữ liệu chuỗi thời gian lớn gồm 2.328 quan sát.

Câu hỏi thường gặp

Mối quan hệ giữa giá dầu thô quốc tế và thị trường chứng khoán Việt Nam là cùng chiều hay ngược chiều?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên 2.328 quan sát cho thấy trong ngắn hạn, giá dầu thô Brent và chỉ số VN-Index có mối quan hệ cùng chiều. Khi giá dầu tăng, các cổ phiếu nhóm ngành dầu khí vốn chiếm khoảng 6% - 7% vốn hóa thị trường tăng trưởng mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa tâm lý tích cực lên toàn bộ chỉ số chung.

Tại sao nghiên cứu phải sử dụng kiểm định đồng tích hợp phi tuyến Gregory và Hansen thay vì Johansen truyền thống?
Trong giai đoạn 2006 - 2015, kinh tế Việt Nam và thế giới trải qua các biến cố lớn như khủng hoảng tài chính 2007 - 2008 và cú sốc dầu đá phiến 2014. Kiểm định Gregory và Hansen (1996) cho phép xác định mối quan hệ đồng tích hợp ngay cả khi có điểm gãy cấu trúc chế độ, giúp tránh hiện tượng kết luận sai lệch của các phương pháp tuyến tính cổ điển.

Vì sao giá dầu giảm sâu trong giai đoạn 2014 - 2015 lại không gây ra quan hệ nhân quả Granger đối với chỉ số VN-Index?
Trong giai đoạn này, giá dầu giảm hơn 50% làm sụt giảm lợi nhuận nhóm dầu khí nhưng đồng thời lại tiết giảm chi phí đầu vào cho các ngành vận tải, tiêu dùng và nhựa (chiếm hơn 40% vốn hóa). Lợi ích và thiệt hại giữa các nhóm ngành tự bù trừ lẫn nhau, khiến tác động tổng thể lên VN-Index không còn mang ý nghĩa thống kê.

Tỷ giá hối đoái có tác động như thế nào đến chỉ số VN-Index trong mô hình nghiên cứu?
Kết quả ước lượng mô hình ECM chỉ ra rằng biến động của tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng chưa có tác động tức thời rõ rệt lên chỉ số chứng khoán trong ngắn hạn, do chính sách kiểm soát tỷ giá linh hoạt và biên độ dao động được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh thận trọng trong ngưỡng 1% đến 3%.

Tốc độ điều chỉnh của thị trường chứng khoán về trạng thái cân bằng dài hạn sau cú sốc giá dầu diễn ra như thế nào?
Hệ số hiệu chỉnh sai số trong mô hình ECM mang giá trị âm nhưng độ lớn xấp xỉ gần mức 0. Điều này chỉ ra rằng sau một cú sốc giá năng lượng từ thị trường quốc tế, tốc độ tự điều chỉnh của thị trường chứng khoán Việt Nam để quay trở lại trạng thái cân bằng dài hạn diễn ra tương đối chậm.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh sự tồn tại của mối liên kết cân bằng dài hạn phi tuyến có gãy cấu trúc giữa giá dầu Brent, tỷ giá USD/VND và VN-Index thông qua 2.328 quan sát theo ngày trong giai đoạn 2006 - 2015.
  • Xác lập mối quan hệ nhân quả một chiều có ý nghĩa thống kê chạy từ giá dầu thô quốc tế sang thị trường chứng khoán Việt Nam trong toàn bộ mẫu và các giai đoạn khủng hoảng, phục hồi.
  • Làm rõ cơ chế trung tính hóa tác động trong giai đoạn giá dầu lao dốc 2014 - 2015 nhờ sự bù trừ chi phí và lợi nhuận giữa các khối ngành sản xuất, vận tải và năng lượng.
  • Ước lượng thành công tốc độ điều chỉnh sai số ngắn hạn thông qua mô hình ECM, khẳng định quán tính điều chỉnh của thị trường chứng khoán nội địa sau cú sốc năng lượng diễn ra tương đối chậm.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về chính sách tài khóa, công nghiệp chế biến dầu khí, thị trường phái sinh hàng hóa và đa dạng hóa cơ cấu thị trường vốn.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là việc tiên phong ứng dụng phương pháp kinh tế lượng hiện đại có tính đến gãy cấu trúc để giải quyết bài toán năng lượng và tài chính tại Việt Nam. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và học viên cao học có thể ứng dụng khung phân tích này để tiếp tục mở rộng mô hình sang các kênh tài sản khác như vàng và lãi suất liên ngân hàng nhằm hoàn thiện chiến lược quản trị rủi ro vĩ mô.