Loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nội dung trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975. Phân tích các xu hướng, đặc điểm nổi bật và sự phát triển của thể loại.

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên cứu sinh
202
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tiểu Thuyết Việt Nam Sau 1975 Bối Cảnh Đổi Mới

Sau năm 1975, văn học Việt Nam dần chuyển mình từ văn học chiến tranh sang văn học thời bình, hòa nhập với khu vực và thế giới. Tiểu thuyết, với sự năng động, trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà văn. Thế hệ nhà văn kỳ cựu như Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng tiếp tục đổi mới, bên cạnh đó là sự trỗi dậy của các nhà văn trưởng thành sau chiến tranh như Bảo Ninh, Chu Lai. Sự giao lưu văn học phương Tây, cùng với đổi mới xã hội, thúc đẩy các cây bút tiểu thuyết làm mới mình, tạo nên bức tranh đa dạng cho tiểu thuyết Việt Nam sau 1975. Một nghiên cứu hệ thống là cần thiết để nắm bắt đặc điểm và xu hướng phát triển. Các nhà phê bình thường vận dụng lý thuyết Kí hiệu học, Thi pháp học để phân tích, tuy nhiên, cần chú trọng cả nội dung và hình thức để có cái nhìn toàn diện. Việc tìm hiểu loại hình nội dung tiểu thuyết là hướng đi giàu tiềm năng, giúp nhận diện, đánh giá sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại và làm sắc bén nhận thức lý thuyết.

1.1. Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu tiểu thuyết sau 1975

Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang tính thực tiễn. Việc nắm bắt các loại hình nội dung giúp nâng cao hiệu quả dạy và học văn học ở các trường THPT, Cao đẳng, Đại học. Đây là đối tượng nghiên cứu và giảng dạy quan trọng. Nghiên cứu này cung cấp nền tảng để hiểu sâu hơn về văn học Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao quan trọng, đồng thời cung cấp công cụ phân tích hữu ích cho giáo viên và học sinh. Điều này góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị của tiểu thuyết Việt Nam.

1.2. Sự cần thiết của việc phân tích nội dung tiểu thuyết

Trong khi các phân tích trước đây tập trung vào hình thức và bút pháp, việc đi sâu vào nội dung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là cần thiết để có cái nhìn cân bằng. Các phương diện hình thức và nội dung luôn gắn bó mật thiết trong tác phẩm. Việc khái quát các mô hình nội dung và chỉ ra các loại hình nội dung thể loại là hướng nghiên cứu phù hợp với mong muốn nhận diện và đánh giá sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nghiên cứu này giúp làm rõ mối liên hệ giữa nội dungbối cảnh xã hội.

II. Thách Thức Trong Phân Tích Nội Dung Tiểu Thuyết Việt Nam

Nghiên cứu phê bình văn học trước 1975 thường dựa trên quan điểm xã hội học, đánh giá tác phẩm qua nội dung phản ánh hiện thực. Các cách tân nghệ thuật chưa được đánh giá đúng mức. Sau 1975, phê bình văn học dần đi sâu vào bản chất thẩm mỹ. Tuy nhiên, vẫn cần sự cân bằng giữa đánh giá hình thức và nội dung. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu, tiểu thuyết luôn là vấn đề nóng, thu hút sự quan tâm của giới sáng tác, lý luận, phê bình và công chúng. Việc tiếp cận tiểu thuyết với cái nhìn cởi mở, hướng đến sự phát triển, hòa nhập với văn học thế giới là điểm dễ thấy trong các công trình. Cần làm rõ các biểu hiện đa dạng hóa đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo trong sáng tác.

2.1. Tiếp cận đa chiều để nhận diện sự đổi mới

Để hiểu rõ sự đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, cần tiếp cận đa chiều, xem xét cả hình thức và nội dung. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa các phương pháp phân tích khác nhau, từ xã hội học đến thi pháp học. Quan trọng là phải đặt tiểu thuyết trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội cụ thể để hiểu được những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Cách tiếp cận toàn diện này giúp chúng ta đánh giá đúng giá trị của tiểu thuyết.

2.2. Vượt qua những hạn chế của phê bình văn học trước 1975

Phê bình văn học trước 1975 có nhiều hạn chế do chịu ảnh hưởng của quan điểm xã hội học duy nhất. Để phân tích tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 một cách hiệu quả, cần vượt qua những hạn chế này và áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại. Cần chú trọng đến nghệ thuật viết, ngôn ngữ, cấu trúc của tác phẩm, đồng thời xem xét nội dung trong mối liên hệ với bối cảnh xã hội.

III. Cách Phân Tích Nội Dung Tiểu Thuyết Việt Nam Sau 1975 Chi Tiết

Nhiều nhà nghiên cứu đã làm rõ sự đa dạng hóa đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo trong sáng tác, đi sâu tìm hiểu những đổi mới trong nội dung tiểu thuyết sau 1975. Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác sự đổi mới nhu cầu cũng như những giá trị phản ánh hiện thực của tiểu thuyết. Mối quan hệ giữa văn học và đời sống được xem là mối quan hệ chủ yếu để nhận thức những vận động cách tân ở thể loại này. Theo Phong Lê, hiện thực lớn đòi hỏi những tác phẩm lớn, với khả năng khái quát nghệ thuật, sức mạnh nghệ thuật và chân lý nghệ thuật. Cái mới trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 cũng được nhìn nhận trong hệ thẩm mỹ mới, với sự đa dạng của các phạm trù thẩm mỹ.

3.1. Xác định các chủ đề chính trong tiểu thuyết sau 1975

Để phân tích nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, trước hết cần xác định các chủ đề chính mà tác giả đề cập. Các chủ đề này có thể liên quan đến chiến tranh, tình yêu, gia đình, xã hội. Sau khi xác định được các chủ đề, cần phân tích cách tác giả khai thác và thể hiện các chủ đề này. Điều này giúp chúng ta hiểu được thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.

3.2. Phân tích diễn biến tâm lý nhân vật trong tác phẩm

Diễn biến tâm lý nhân vật là một yếu tố quan trọng trong tiểu thuyết. Phân tích diễn biến tâm lý nhân vật giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tính cách, động cơ và hành động của nhân vật. Cần xem xét bối cảnhcác mối quan hệ của nhân vật để hiểu được tại sao nhân vật lại có những suy nghĩ và hành động như vậy. Phân tích này giúp làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về nội dung tiểu thuyết.

IV. Nghiên Cứu Đổi Mới Hình Thức Thể Loại Tiểu Thuyết Việt Nam

Bên cạnh xu hướng tìm hiểu tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trong cái nhìn bao quát mối quan hệ văn học - hiện thực là xu hướng tìm hiểu sự vận động của thể loại này từ góc độ nghệ thuật, hình thức thể loại. Những trăn trở cách tân thể loại đã được các nhà văn nhận thức sâu sắc và mạnh dạn thể nghiệm qua thực tiễn sáng tác. Theo La Khắc Hoà, những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là sự thay đổi trong quan niệm về bản thân thể loại. Những đổi mới ấy được bộc lộ ở nhiều khía cạnh: mở rộng quan niệm hiện thực, đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ, giọng điệu.

4.1. Phân tích ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết

Ngôn ngữ và giọng điệu là hai yếu tố quan trọng tạo nên phong cách của một nhà văn. Phân tích ngôn ngữ và giọng điệu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quan điểm và thái độ của tác giả đối với nhân vật và sự kiện trong tác phẩm. Cần chú ý đến việc sử dụng từ ngữ, cấu trúc câu, nhịp điệu của văn bản để phân tích ngôn ngữ và giọng điệu. Phân tích này góp phần vào việc nhận diện các loại hình nội dung tiểu thuyết.

4.2. So sánh hình thức tiểu thuyết trước và sau năm 1975

Để thấy rõ sự đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, cần so sánh hình thức của tiểu thuyết trước và sau năm 1975. Cần chú ý đến cấu trúc, cốt truyện, nhân vật, và ngôn ngữ của hai giai đoạn. So sánh này giúp chúng ta hiểu được những thay đổi trong quan niệm nghệ thuậtcách thức thể hiện của các nhà văn.

V. Ứng Dụng Kết Quả Phân Tích Chuyên Sâu Tác Phẩm Tiêu Biểu

Các công trình nghiên cứu đều thống nhất trong nhận định tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 có sự “lột xác” để đem lại diện mạo mới. Sự cách tân trong nghệ thuật tiểu thuyết được hầu hết các nhà văn ý thức để tự đổi mới mình. Cùng với nội dung, hình thức tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã có sự đổi mới nhiều mặt, bước đầu tiếp cận với xu hướng văn chương hiện đại, hậu hiện đại trên thế giới. Nhìn chung, với vai trò chủ đạo trong dòng vận động đổi mới của văn học Việt Nam, tiểu thuyết đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, trên nhiều phương diện.

5.1. Áp dụng phương pháp phân tích vào một tác phẩm cụ thể

Sau khi đã nắm vững các phương pháp phân tích, cần áp dụng chúng vào một tác phẩm cụ thể để kiểm chứng và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết. Chọn một tác phẩm tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và tiến hành phân tích chi tiết về nội dung, hình thức, nhân vật, ngôn ngữ. Quan trọng là phải đưa ra những nhận xét và đánh giá có căn cứ, dựa trên bằng chứng từ văn bản.

5.2. Đánh giá tác động của bối cảnh xã hội lên tác phẩm

Bối cảnh xã hội có tác động lớn đến nội dung và hình thức của tiểu thuyết. Đánh giá tác động của bối cảnh xã hội giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tác phẩm và thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Cần xem xét các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, và xã hội ảnh hưởng đến tác phẩm. Đánh giá này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.

VI. Kết Luận Tương Lai Giá Trị Phân Tích Tiểu Thuyết Việt

Các công trình, bài viết đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến các loại hình tiểu thuyết Việt Nam sau 1975. Tuy nhiên, hầu hết những ý kiến thường mang tính nhận định khái quát, chưa có công trình bài viết nào bao quát trên diện rộng cũng như những thể hiện chiều sâu làm rõ các loại hình nội dung tiểu thuyết, chưa xâu chuỗi thành những luận điểm giàu ý nghĩa lý thuyết và tiềm năng phương pháp luận. Giải quyết những vẫn đề còn đang bỏ ngỏ đó cũng chính là nhiệm vụ đặt ra trong nghiên cứu. Nghiên cứu về loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 sẽ tiếp tục là một hướng đi quan trọng, góp phần làm phong phú thêm lý luận văn học và nâng cao hiệu quả giảng dạy.

6.1. Tổng kết những đóng góp của nghiên cứu về tiểu thuyết

Nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm sáng tỏ diện mạo và sự phát triển của văn học nước nhà. Các nghiên cứu đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thay đổi trong nội dung, hình thức, và quan niệm nghệ thuật của tiểu thuyết sau chiến tranh. Điều này góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị của văn học Việt Nam.

6.2. Định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo về tiểu thuyết

Nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 vẫn còn nhiều tiềm năng để khám phá. Cần tiếp tục đi sâu vào các loại hình nội dung của tiểu thuyết, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác phẩm và tác giả mới. Quan trọng là phải kết hợp lý thuyết và thực tiễn để đưa ra những nhận xét và đánh giá chính xác và khách quan.

12/05/2025
Loại hình nội dung tiểu thuyết việt nam sau 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ LOẠI HÌNH NỘI DUNG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa và sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa Đại thắng mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nƣớc, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời đƣa văn học, nghệ thuật bƣớc vào chặng đƣờng phát triển mới. Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã đi qua, sau những ngày tháng trƣờng kỳ trong đạn bom ác liệt, cả dân tộc ta cũng nhƣ mỗi ngƣời dân trở lại cuộc sống bình thƣờng trong hoàn cảnh hòa bình.

Mƣời năm sau ngày Tổ quốc thống nhất, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta từng bƣớc xây dựng lại đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, dần phục hồi và phát triển các ngành sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động. Trên thực tế, một mặt, do nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá liên miên, cộng thêm chính sách cấm vận của Mĩ; mặt khác, do những hạn chế chủ quan trong cải tạo, xây dựng kinh tế, nhìn chung thời kì này đất nƣớc chƣa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ. Đời sống văn hoá - văn học cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Tƣ tƣởng xây dựng nền văn hoá mới, con ngƣời mới đƣợc quán triệt, song về cơ bản vẫn mang nặng tàn dƣ giáo điều, lạc hậu.

Chỉ đến Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) với những chủ trƣơng đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến tƣ tƣởng, xã hội thì văn hoá - văn học mới có những điều kiện thực sự 16 chuyển biến. Chủ trƣơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thị trƣờng, có sự quản lí của Nhà nƣớc là một quyết sách đúng đắn, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có việc hình thành một hệ giá trị văn hoá mới phù hợp với quy luật vận động của đời sống, đáp ứng nhu cầu bức thiết của con ngƣời trong hoàn cảnh mới. Tiếp sau Đại hội VI của Đảng là Nghị quyết 05 của Bộ chính trị, cuộc gặp của Tổng bí thƣ Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã mở ra cho văn học nghệ thuật dân tộc cơ hội đổi mới thực sự, trên tinh thần đổi mới tƣ duy, nhìn thẳng vào sự thật. Chƣa bao giờ vai trò, trách nhiệm của ngƣời cầm bút và tính chân thực của văn học lại đƣợc đặt ra một cách rốt ráo và toàn diện đến thế.

Qua các kì Đại hội tiếp theo, đƣờng lối phát triển kinh tế xã hội không ngừng đƣợc bổ sung, hoàn thiện nhằm đƣa đất nƣớc ngày càng phát triển xứng tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trên phƣơng diện tổng thể, định hƣớng phát triển một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn liền với sự phát triển chung của xã hội, trong đó con ngƣời đƣợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân đã đƣợc nhận thức và biểu hiện thành những biến đổi thực tế. Điều đó diễn ra đồng thời với con đƣờng kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích và phẩm giá chân chính của con ngƣời. Thành tựu đổi mới cũng cho thấy đó là hệ quả của việc kết hợp hài hoà các lợi ích toàn xã hội với lợi ích của các tập thể, của mỗi cá nhân; là hệ quả của sự phát huy dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Có rất nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh của công cuộc đổi mới văn học 17 Việt Nam từ sau 1975, trong đó không thể không khẳng định vai trò quan trọng của những định hƣớng phát triển văn học trong chiến lƣợc phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nƣớc ta. Một không khí dân chủ trong đời sống văn hóa và văn học đã có tác động lớn lao đến đội ngũ những ngƣời sáng tác. Giữa nhà văn và bạn đọc dần tiệm cận mục tiêu xóa bỏ những ngăn cách, xây dựng quan hệ bình đẳng để rồi những va chạm, tác động của các yếu tố này trong môi trƣờng dân chủ thúc đẩy sự phát triển của đời sống văn học. Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã là những động lực cho văn học thời kỳ đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi.

Đây vừa là kết quả, vừa là động lực cho những tìm tòi cách tân trong sáng tác, đồng thời gắn bó, tác động qua lại mạnh mẽ với thị hiếu thẩm mĩ và quá trình tiếp nhận của bạn đọc. Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn hóa, văn học. Tƣ duy văn học mới dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm về chức năng văn học, về quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc, sáng tác và tiếp nhận. Chức năng thẩm mỹ của văn học đƣợc nhấn mạnh, coi trọng hàng đầu.

Các chức năng đa dạng, phong phú của văn học đƣợc suy ngẫm, bàn thảo mong đi đến những lý giải thấu đáo. Văn học đƣợc nhìn nhận nhƣ là tƣ duy về cái khả nhiên. “Văn học không giản đơn chỉ là phản ánh các khả năng của hiện thực. Làm nhƣ thế văn học sẽ chẳng khác nào chính trị, tƣơng lai học, xã hội học,.

Mọi ngƣời đều biết, tƣ duy chẳng phải gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó. Nhƣ thế, chỉ nói đến khả năng là chƣa đủ. Điểm đặc thù của văn học còn là sáng tạo những cái khả nhiên của đời sống” [188 ; 21]. Những khía cạnh, vấn đề về tính chân thực của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống cũng liên tục đƣợc bàn luận, bổ sung, tái nhận thức.

“Chúng ta không thể nói một cách chắc chắn hoàn toàn những gì văn 18 học biểu hiện là chân lý, bởi đó là nhận thức của nhà văn trong những hoàn cảnh nhất định dƣới hình thức hƣ cấu và rất nhiều ngẫu nhiên. Nhƣng ta có thể nói đó là những cái khả nhiên do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống, giải phóng con ngƣời khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn bên ngoài, kích thích sự chú ý đến mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời” [188 ; 22]. Và đặc trƣng của văn học gắn liền với cơ chế của sự phản ánh thẩm mĩ cũng đƣợc soi sáng trong mối quan hệ đa chiều giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Có thể nói, mọi phƣơng diện của đời sống văn học đã đƣợc nhìn nhận, đánh giá trong những quan niệm hiện đại, sản phẩm của một tƣ duy mới về nghệ thuật.

Đồng thời, những đổi mới tƣ duy nghệ thuật bắt nguồn từ những đổi thay quan niệm văn hóa cũng thúc đẩy mạnh mẽ những tìm tòi, thể nghiệm về cách tiếp cận và thể hiện thực tại, cách tân thủ pháp nghệ thuật, phát huy cá tính sáng tạo, kích thích tài năng và phong cách của các nhà văn. Văn hóa chính là một trụ cột của đời sống, vừa là động lực, vừa là mục tiêu hƣớng tới của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới. Môi trƣờng dân chủ vừa cho phép, vừa đòi hỏi sự phong phú, đa dạng trong cách thức, nội dung phát triển văn hóa. Văn học là một yếu tố năng động của văn hóa.

Trong môi trƣờng mới, những điều kiện cũng nhƣ những “áp lực” ấy trở thành nội lực mạnh mẽ cho những tìm tòi đổi mới văn học. Cuộc sống trong hoàn cảnh hòa bình đã hình thành lớp công chúng độc giả với thị hiếu khác trƣớc. Bƣớc ra khỏi cuộc chiến tranh, con ngƣời đối diện với muôn vẻ của một hiện thực rộng lớn, phức tạp. Những tác phẩm văn học quan niệm cuộc đời một chiều, đơn giản không thể thỏa mãn nhu cầu phong phú muốn khám phá những bí ẩn của cuộc sống, con ngƣời.

Nhu cầu về các giá trị thẩm mĩ mới của đời sống thời bình rất phong phú, đa dạng. Mỗi ngƣời, mỗi điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều có những nhu cầu 19 riêng. Điều đó tác động, ảnh hƣởng đến cách thức cảm nhận, khám phá, diễn tả, đánh giá về cuộc sống con ngƣời ở hiện tại cũng nhƣ khi nhìn về quá khứ. Thị hiếu thẩm mĩ mới gắn liền với tƣ duy mới về văn học, đòi hỏi văn học phải chân thật theo đúng nghĩa, đào sâu tận cùng bản thể cá nhân, nơi ẩn chứa những bí mật vô tận về con ngƣời.

Năm 1978, tham gia thảo luận cách thức Viết về chiến tranh, đứng trƣớc thực trạng độc giả ngoảnh mặt với văn học, Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn khuấy động bầu không khí quen thuộc của văn học viết về chiến tranh nhƣ đã trở thành quán tính trong suốt nhiều thập kỷ. Từ băn khoăn phải viết về chiến tranh nhƣ thế nào, khi mà “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn”, Nguyễn Minh Châu đƣa ra câu trả lời: “phải viết về con ngƣời” với tất cả những tính cách đa dạng bấy nay “tạm thời giấu mình trên trang sách” [28 ; 13]. Có thể nói, chính thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học thay đổi theo chiều hƣớng ngày càng phong phú, đa dạng là một trong những động lực quan trọng để các cây bút bứt phá khỏi bi kịch đánh mất mình, tìm đến những trang viết chân thực. Trong những năm tháng chiến tranh, độc giả hào hứng tiếp nhận những tác phẩm văn học phản ánh cái chung, những sự kiện lịch sử dân tộc, những tấm gƣơng anh dũng, phi thƣờng.

Hòa bình lập lại, trƣớc sự đổi thay thị hiếu thẩm mĩ, thay vì phản ánh những số phận cá nhân khuất chìm trong số phận của cả cộng đồng, các nhà văn lấy số phận cá nhân làm điểm khởi đầu, là đích đến đồng thời là trung tâm của lăng kính nghệ thuật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ