Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ LOẠI HÌNH NỘI DUNG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa và sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa Đại thắng mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nƣớc, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời đƣa văn học, nghệ thuật bƣớc vào chặng đƣờng phát triển mới. Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã đi qua, sau những ngày tháng trƣờng kỳ trong đạn bom ác liệt, cả dân tộc ta cũng nhƣ mỗi ngƣời dân trở lại cuộc sống bình thƣờng trong hoàn cảnh hòa bình.
Mƣời năm sau ngày Tổ quốc thống nhất, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta từng bƣớc xây dựng lại đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, dần phục hồi và phát triển các ngành sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động. Trên thực tế, một mặt, do nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá liên miên, cộng thêm chính sách cấm vận của Mĩ; mặt khác, do những hạn chế chủ quan trong cải tạo, xây dựng kinh tế, nhìn chung thời kì này đất nƣớc chƣa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ. Đời sống văn hoá - văn học cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Tƣ tƣởng xây dựng nền văn hoá mới, con ngƣời mới đƣợc quán triệt, song về cơ bản vẫn mang nặng tàn dƣ giáo điều, lạc hậu.
Chỉ đến Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) với những chủ trƣơng đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến tƣ tƣởng, xã hội thì văn hoá - văn học mới có những điều kiện thực sự 16 chuyển biến. Chủ trƣơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thị trƣờng, có sự quản lí của Nhà nƣớc là một quyết sách đúng đắn, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có việc hình thành một hệ giá trị văn hoá mới phù hợp với quy luật vận động của đời sống, đáp ứng nhu cầu bức thiết của con ngƣời trong hoàn cảnh mới. Tiếp sau Đại hội VI của Đảng là Nghị quyết 05 của Bộ chính trị, cuộc gặp của Tổng bí thƣ Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã mở ra cho văn học nghệ thuật dân tộc cơ hội đổi mới thực sự, trên tinh thần đổi mới tƣ duy, nhìn thẳng vào sự thật. Chƣa bao giờ vai trò, trách nhiệm của ngƣời cầm bút và tính chân thực của văn học lại đƣợc đặt ra một cách rốt ráo và toàn diện đến thế.
Qua các kì Đại hội tiếp theo, đƣờng lối phát triển kinh tế xã hội không ngừng đƣợc bổ sung, hoàn thiện nhằm đƣa đất nƣớc ngày càng phát triển xứng tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trên phƣơng diện tổng thể, định hƣớng phát triển một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn liền với sự phát triển chung của xã hội, trong đó con ngƣời đƣợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân đã đƣợc nhận thức và biểu hiện thành những biến đổi thực tế. Điều đó diễn ra đồng thời với con đƣờng kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích và phẩm giá chân chính của con ngƣời. Thành tựu đổi mới cũng cho thấy đó là hệ quả của việc kết hợp hài hoà các lợi ích toàn xã hội với lợi ích của các tập thể, của mỗi cá nhân; là hệ quả của sự phát huy dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Có rất nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh của công cuộc đổi mới văn học 17 Việt Nam từ sau 1975, trong đó không thể không khẳng định vai trò quan trọng của những định hƣớng phát triển văn học trong chiến lƣợc phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nƣớc ta. Một không khí dân chủ trong đời sống văn hóa và văn học đã có tác động lớn lao đến đội ngũ những ngƣời sáng tác. Giữa nhà văn và bạn đọc dần tiệm cận mục tiêu xóa bỏ những ngăn cách, xây dựng quan hệ bình đẳng để rồi những va chạm, tác động của các yếu tố này trong môi trƣờng dân chủ thúc đẩy sự phát triển của đời sống văn học. Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã là những động lực cho văn học thời kỳ đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi.
Đây vừa là kết quả, vừa là động lực cho những tìm tòi cách tân trong sáng tác, đồng thời gắn bó, tác động qua lại mạnh mẽ với thị hiếu thẩm mĩ và quá trình tiếp nhận của bạn đọc. Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn hóa, văn học. Tƣ duy văn học mới dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm về chức năng văn học, về quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc, sáng tác và tiếp nhận. Chức năng thẩm mỹ của văn học đƣợc nhấn mạnh, coi trọng hàng đầu.
Các chức năng đa dạng, phong phú của văn học đƣợc suy ngẫm, bàn thảo mong đi đến những lý giải thấu đáo. Văn học đƣợc nhìn nhận nhƣ là tƣ duy về cái khả nhiên. “Văn học không giản đơn chỉ là phản ánh các khả năng của hiện thực. Làm nhƣ thế văn học sẽ chẳng khác nào chính trị, tƣơng lai học, xã hội học,.
Mọi ngƣời đều biết, tƣ duy chẳng phải gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó. Nhƣ thế, chỉ nói đến khả năng là chƣa đủ. Điểm đặc thù của văn học còn là sáng tạo những cái khả nhiên của đời sống” [188 ; 21]. Những khía cạnh, vấn đề về tính chân thực của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống cũng liên tục đƣợc bàn luận, bổ sung, tái nhận thức.
“Chúng ta không thể nói một cách chắc chắn hoàn toàn những gì văn 18 học biểu hiện là chân lý, bởi đó là nhận thức của nhà văn trong những hoàn cảnh nhất định dƣới hình thức hƣ cấu và rất nhiều ngẫu nhiên. Nhƣng ta có thể nói đó là những cái khả nhiên do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống, giải phóng con ngƣời khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn bên ngoài, kích thích sự chú ý đến mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời” [188 ; 22]. Và đặc trƣng của văn học gắn liền với cơ chế của sự phản ánh thẩm mĩ cũng đƣợc soi sáng trong mối quan hệ đa chiều giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Có thể nói, mọi phƣơng diện của đời sống văn học đã đƣợc nhìn nhận, đánh giá trong những quan niệm hiện đại, sản phẩm của một tƣ duy mới về nghệ thuật.
Đồng thời, những đổi mới tƣ duy nghệ thuật bắt nguồn từ những đổi thay quan niệm văn hóa cũng thúc đẩy mạnh mẽ những tìm tòi, thể nghiệm về cách tiếp cận và thể hiện thực tại, cách tân thủ pháp nghệ thuật, phát huy cá tính sáng tạo, kích thích tài năng và phong cách của các nhà văn. Văn hóa chính là một trụ cột của đời sống, vừa là động lực, vừa là mục tiêu hƣớng tới của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới. Môi trƣờng dân chủ vừa cho phép, vừa đòi hỏi sự phong phú, đa dạng trong cách thức, nội dung phát triển văn hóa. Văn học là một yếu tố năng động của văn hóa.
Trong môi trƣờng mới, những điều kiện cũng nhƣ những “áp lực” ấy trở thành nội lực mạnh mẽ cho những tìm tòi đổi mới văn học. Cuộc sống trong hoàn cảnh hòa bình đã hình thành lớp công chúng độc giả với thị hiếu khác trƣớc. Bƣớc ra khỏi cuộc chiến tranh, con ngƣời đối diện với muôn vẻ của một hiện thực rộng lớn, phức tạp. Những tác phẩm văn học quan niệm cuộc đời một chiều, đơn giản không thể thỏa mãn nhu cầu phong phú muốn khám phá những bí ẩn của cuộc sống, con ngƣời.
Nhu cầu về các giá trị thẩm mĩ mới của đời sống thời bình rất phong phú, đa dạng. Mỗi ngƣời, mỗi điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều có những nhu cầu 19 riêng. Điều đó tác động, ảnh hƣởng đến cách thức cảm nhận, khám phá, diễn tả, đánh giá về cuộc sống con ngƣời ở hiện tại cũng nhƣ khi nhìn về quá khứ. Thị hiếu thẩm mĩ mới gắn liền với tƣ duy mới về văn học, đòi hỏi văn học phải chân thật theo đúng nghĩa, đào sâu tận cùng bản thể cá nhân, nơi ẩn chứa những bí mật vô tận về con ngƣời.
Năm 1978, tham gia thảo luận cách thức Viết về chiến tranh, đứng trƣớc thực trạng độc giả ngoảnh mặt với văn học, Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn khuấy động bầu không khí quen thuộc của văn học viết về chiến tranh nhƣ đã trở thành quán tính trong suốt nhiều thập kỷ. Từ băn khoăn phải viết về chiến tranh nhƣ thế nào, khi mà “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn”, Nguyễn Minh Châu đƣa ra câu trả lời: “phải viết về con ngƣời” với tất cả những tính cách đa dạng bấy nay “tạm thời giấu mình trên trang sách” [28 ; 13]. Có thể nói, chính thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học thay đổi theo chiều hƣớng ngày càng phong phú, đa dạng là một trong những động lực quan trọng để các cây bút bứt phá khỏi bi kịch đánh mất mình, tìm đến những trang viết chân thực. Trong những năm tháng chiến tranh, độc giả hào hứng tiếp nhận những tác phẩm văn học phản ánh cái chung, những sự kiện lịch sử dân tộc, những tấm gƣơng anh dũng, phi thƣờng.
Hòa bình lập lại, trƣớc sự đổi thay thị hiếu thẩm mĩ, thay vì phản ánh những số phận cá nhân khuất chìm trong số phận của cả cộng đồng, các nhà văn lấy số phận cá nhân làm điểm khởi đầu, là đích đến đồng thời là trung tâm của lăng kính nghệ thuật.