Mở đầu - nêu lí do thực hiện đề tài, đề ra mục tiêu nghiên cứu và cuối cùng xác định phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan - tổng hợp các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài và tổng quan địa bàn nghiên cứu tại xã Long Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu - trình bày các lí thuyết, khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu đề tài. Xác định phương pháp thu thập số liệu, xây dựng phương pháp phân tích hợp lí để đi đến kết quả nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Từ kết quả khảo sát thu được tiến hành phân tích dựa trên các mục tiêu đã đề ra. Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan tài liệu tham khảo Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu về hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ được công bố trên sách, báo và tạp chí. Sau đây là tổng quan các tài liệu mà tác giả dựa trên đó làm cơ sở và tham khảo cho hướng nghiên cứu của đề tài: Khổng Tiến Dũng (2020) đã thực hiện nghiên cứu “Hiệu quả tài chính và sự sẵn lòng chuyển đổi sang mô hình lúa hữu cơ của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu nhằm mục đích so sánh hiệu quả tài chính của mô hình truyền thống và mô hình lúa hữu cơ ở hai khu vực thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 168 nông hộ trên địa bàn huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long có điều kiện sản xuất tương đồng. Các chỉ số tài chính, hàm lợi nhuận Cobb- Douglas và mô hình nhị phân Logit được sử dụng để đánh giá và so sánh hiệu quả tài chính, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chuyển đổi sang mô hình hữu cơ của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 40% các nông hộ ở mô hình truyền thống sẵn lòng chuyển đổi sang mô hình hữu cơ. Hàm lợi nhuận Cobb-Douglas được sử dụng để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận mô hình truyền thống bao gồm: giá chuẩn hóa của phân kali, thuốc và diện tích.
Ngoài ra, mô hình nhị phân Logit được dùng để xác định biến tuổi làm tăng xác suất đồng ý chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình hữu cơ trong khi biến diện tích và doanh thu của mô hình truyền thống làm giảm xác suất này. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số giải pháp và ngụ ý chính sách được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và lạo động cơ chuyển đổi sang mô hình hữu cơ. 8 Võ Văn Tuấn và cộng tác viên (2020) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa thơm đặc sản ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả các mô hình thí điểm liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa thơm đặc sản trên nền tảng qui trình VietGAP.
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi cấu trúc với 64 hộ thành viên trong mô hình thí điểm và 95 nông hộ bên ngoài trên cùng địa bàn sản xuất. Nghiên cứu được tiếp cận theo “nghiên cứu hành động” từ chọn giống thích nghi đến nối kết tiêu thụ, tại ba Hợp tác xã nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy mô hình thí điểm trên nền tảng VietGAP có hiệu quả tài chính cao hơn sản xuất lúa thông thường tùy vào các mức độ liên kết; trong đó, mô hình chuỗi mở có lợi nhuận cao nhất (24,9 triệu đồng/ha), kế đến là mô hình chuỗi liên kết (24,1 triệu đ/ha) và cuối cùng là mô hình chuỗi kín (17,3 triệu đồng/ha). Giá lúa tăng thêm ở các mô hình sản xuất theo hợp đồng chưa đủ lớn (+100 đồng/kg) nên các hợp tác xã có xu hướng lựa chọn mô hình ít ràng buộc hơn để thích ứng với bối cảnh sản xuất và thị trường hiện nay.
Cách tiếp cận nghiên cứu hành động thúc đẩy nâng cao được năng lực của Ban quản lý và thành viên hợp tác xã, giúp họ có thể sản xuất lúa qui chuẩn, làm nền tảng phát triển các mô hình liên kết, đáp ứng đa dạng nhu cầu của thị trường lúa gạo chất lượng cao. Nguyễn Văn Thành và cộng tác viên (2019) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá thực trạng hợp tác, liên kết của nông hộ trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ tại xã Thủy Phù, thị xã Hương thủy, Thừa Thiên Huế”. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa của hai nhóm nông hộ theo mô hình lúa thường và mô hình canh tác lúa hữu cơ; phân tích thực trạng hợp tác liên kết trong sản xuất lúa hữu cơ của nông hộ và từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ tại đây. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 60 hộ sản xuất hữu cơ bằng bảng câu hỏi cấu trúc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 80% lúa hữu cơ được tiêu thụ thông qua hợp đồng, tỉ lệ hộ thực hiện theo hợp đồng chiếm tỉ lệ 98%. Liên kết giữa nông hộ sản xuất lúa hữu cơ là liên kết miệng, chưa chặt chẽ; liên kết này thực hiện chủ yếu thông qua trao đổi thông tin về kỹ thuật sản xuất; việc trao đổi thông tin về đầu vào và 9 đầu ra chưa được nông hộ quan tâm. Ngoại trừ điều khoản về xử lý rủi ro, các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, số lượng và chất lượng sản phẩm, và phương thức giao nhận được đánh giá khá chặt chẽ trong hợp đồng. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra kiến nghị cần đẩy mạnh liên kết ngang giữa nông hộ sản xuất.
Bên cạnh đó, cần có những quy định cụ thể hơn về xử lý rủi ro giữa nông hộ và doanh nghiệp nhằm hạn chế thiệt thòi cho nông hộ sản xuất lúa hữu cơ. Hồ Thị Thanh Sang và Lê Văn Gia Nhỏ (2016) đã tiến hành nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất lúa hữu cơ trong hệ thống canh tác lúa - tôm tại tỉnh Trà Vinh”. Mục tiêu của nghiên cứu bao gồm so sánh hiệu quả tải chính của mô hình truyền thống và mô hình lúa hữu cơ; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất mô hình lúa hữu cơ từ đó đề xuất hàm ý chính sách phát triển mô hình sản xuất lúa hữu cơ. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của 104 nông hộ (54 nông hộ áp dụng mô hình lúa hữu cơ và 50 nông hộ áp dụng mô hình lúa truyền thống).
Ngoài phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh, tác giả còn sử dụng mô hình logit nhị thức để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn mô hình canh tác lúa hữu cơ trong hệ thống canh tác lúa – tôm tại đây. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất, giá bán, giá thành, chi phí sản xuất, lợi nhuận từ sản xuất lúa của nhóm hộ sản xuất hữu cơ cao hơn so với những hộ sản xuất truyền thống. Đặc biệt, số lao động nông nghiệp, quy mô diện tích canh tác lúa và sự hài lòng về giá bán lúa là những yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất lúa hữu cơ của nông hộ. Từ đó, để nhân rộng diện tích và tăng số hộ nông dân tham gia sản xuất lúa hữu cơ cần nâng cao giá bán lúa, nâng cao lợi nhuận của lúa và của toàn bộ cơ cấu cây trồng - vật nuôi trong hệ thống, chỉ khuyến khích những hộ có diện tích canh tác lúa tương đối cao và có số lao động trồng lúa khả dụng (3 đến 4 người/ha).
Cần có giải pháp giảm lao động làm cỏ bằng thủ công. Trần Cao Úy và Nguyễn Thị Thu Thảo (2016) đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng và tìm hiểu nhu cầu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau màu ở phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”. Mục tiêu của nghiên cứu bao gồm phân tích tình hình sản xuất rau màu tại phường Hương Chữ, phân tích thực trạng liên kết đầu vào 10 trong sản xuất rau màu, phân tích nhu cầu hình thành mối liên kết thị trường trong sản xuất và tiêu thụ rau màu của hộ sản xuất từ đó đề xuất kiến nghị nhằm duy trì và đẩy mạnh các hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau màu tại đây. Các thông tin, số liệu sơ cấp của nghiên cứu được thu thập qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và phỏng vấn 40 hộ sản xuất, 7 hộ thu gom bằng bảng hỏi bán cấu trúc.
Các thông tin từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm và một số thông tin từ phỏng vấn hộ liên quan được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp phân tích định tính. Bên cạnh đó, thông tin về đặc điểm hộ sản xuất, thực trạng sản xuất và liên kết tiêu thụ rau màu của hộ được mã hóa và tiến hành phân tích định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mối liên kết giữa nông dân với nông dân, nông dân với các đối tác vẫn còn khá lỏng lẻo và mang tính tự phát, chưa có các tổ chức hợp tác liên kết trong nông dân, các hoạt động mua bán không qua hợp đồng hoặc chỉ bằng hợp đồng miệng đang xảy ra phổ biến trên địa bàn nghiên cứu. Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất kiến nghị: đối với các hộ sản xuất cần tiếp tục duy trì và đẩy mạnh các hoạt động liên kết trong sản xuất, cần chủ động tìm kiếm và đề xuất các hợp đồng mua bán trước và trong mỗi vụ sản xuất để đảm bảo rau màu được tiêu thụ ổn định, tạo động lực mở rộng quy mô sản xuất theo hướng hàng hóa, phù hợp với xu thế hiện nay; đối với chính quyền địa phương và các đối tác bên ngoài, cần có các hỗ trợ cụ thể như vận động hình thành hợp tác xã hoặc các tổ hợp tác sản xuất, tạo điều kiện về mặt thủ tục, pháp lý để các đơn vị hợp tác này đi vào hoạt động.
Trần Minh Vĩnh và Phạm Vân Đình (2014) đã tiến hành nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển hợp đồng liên kết sản xuất tiêu thụ lúa gạo tỉnh Đồng Tháp”.