Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRANG TRẠI 1. Một số nhận thức về kinh tế trang trại 1. Khái niệm về kinh tế trang trại Kinh tế trang trại đã hình thành, tồn tại và phát triển trong lịch sử lâu dài của nền nông nghiệp thế giới. Từ thời phong kiến, dù nền nông nghiệp năng xuất thấp, tính chất hàng hóa chưa thể hiện rõ, thì ở Châu âu, các hình thức ban đầu của trang trại đã xuất hiện.
Một số quan niệm về kinh tế trang trại trên thế giới: K.Marx khẳng định, điểm cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hóa, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc. Nhưng cũng có điểm giống nhau là lấy kinh tế gia đình làm cơ sở nòng cốt Ở một số nước phát triển như Mỹ, Anh và một số nước ở Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc…thì cho rằng: “Trang trại là loại hình sản xuất Nông-Lâm- Ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nông sản hàng hóa, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh.” Ở nước ta, trong quá trình hình thành và phát triển, mô hình kinh tế trang trại đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đã có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế trang trại và khái niệm của mô hình sản xuất này vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn. Trên cơ sở Nghị quyết 06 của Bộ Chính Trị, Chính Phủ có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000, Nghị quyết xác định quan điểm về kinh tế trang trại như sau: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông lâm thủy sản.
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại Là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp chứ không phải là một thành phần kinh tế riêng biệt nào khác ngoài kinh tế hộ. Căn bản dựa trên nền tảng kinh tế hộ, mang bản chất kinh tế hộ, được thể hiện trên ba khía cạnh: + Người quản lí chính là chủ hộ, hoặc là một thành viên có năng lực được sự tín nhiệm của hộ. + Trang trại có thể sử dụng lao động làm thuê nhưng lao động của gia đình vẫn là yếu tố trụ cột. + Có thể tích tụ, tập trung thêm đất nhưng không vượt quá khả năng sử dụng có hiệu quả của trang trại.
Con đường hình thành và phát triển cơ bản của trang trại là tái sản xuất mở rộng không phải chủ yếu bằng phát triển chiều rộng mà chủ yếu phát triển chiều sâu- bởi yếu tố đầu tư vốn, khoa học kĩ thuật công nghệ, bởi năng lực quản trị sản xuất kinh doanh được tăng cường Sản xuất hàng hóa lớn (cả tổng giá trị sản phẩm hàng hóa và tỉ suất hàng hóa ) gắn với thị trường và chấp nhận cạnh tranh để phát triển. Trong Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại có xác định rõ các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại như sau: - Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với qui mô lớn. - Mức độ tập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở qui mô sản xuất như: đất đai, số lượng gia súc, lao động, giá trị nông lâm thủy sản hàng hóa. - Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.
Ngoài ra, thông tư này cũng đưa ra những tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại: - Giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm: + Đối với các Tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên. + Đối với các Tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên - Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế Đối với trang trại trồng trọt: * Trang trại trồng cây hàng năm: + Từ 2 ha trở lên đối với các Tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền trung + Từ 3 ha trở lên đối với các Tỉnh miền Nam và Tây Nguyên * Trang trại trồng cây lâu năm: + Từ 3 ha trở lên đối với các Tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền trung + Từ 5 ha trở lên đối với các Tỉnh miền Nam và Tây Nguyên + Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên * Trang trại lâm nghiệp: + Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước Đối với trang trại chăn nuôi: * Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò… + Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên + Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên * Chăn nuôi gia súc: lợn, dê… + Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên + Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên, dê thịt từ 200 con trở lên * Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan ngỗng…có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số con dưới 7 ngày tuổi). Trang trại nuôi trồng thủy sản: Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên) Đối với các loại sản phẩm nông,lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thủy đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa. Tại thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, đã sửa đổi một số chổ về tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại: - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là kinh tế trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân một năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại được qui định ở Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN- TCTK.
- Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân một năm. Như vậy: Thực chất kinh tế trang trại là dạng kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa với quy mô lớn- là kinh tế nông hộ phát triển cao trên con đường thoát ra khỏi nghèo khó, vươn lên làm giàu cho mình và cho xã hội. Một số tiêu chí cơ bản phân biệt sự khác nhau giữa kinh tế trang trại và kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ: “Là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn. Kinh tế nông hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất và các yếu tố sản xuất khác nhằm đem về thu nhập thuần cao nhất.
Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tích lũy, tự đầu tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự cấp tự túc rồi lên sản xuất hàng hóa và gắn với thị trường.” Đặc trưng chủ yếu của kinh tế nông hộ: - Là đơn vị kinh tế cơ sở- vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng - Là đơn vị kinh tế ở nông thôn, hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản gắn với đất đai, điều kiện thủy văn, thời tiết khí hậu và sinh vật - Tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao về sản xuất và tiêu dùng, căn bản dựa trên sự cân bằng giữa nguồn lực sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của gia đình. - Với lao động gia đình, với đất đai được sử dụng nối tiếp qua nhiều thế hệ gia đình, với tài sản và vốn sản xuất chủ yếu của gia đình, của quan hệ gia tộc, quan hệ huyết thống, nên kể cả khi kinh tế nông hộ gắn với khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại, gắn với thị trường, mà vẫn không thay đổi bản chất, không bị biến dạng. Kinh tế trang trại phát triển trên nền tảng kinh tế nông hộ, nhưng giữa hai loại hình này cũng có nhiều điểm khác nhau, một số tiêu chí để phân biệt hai loại hình này: - Về mục đích sản xuất: kinh tế nông hộ chủ yếu sản xuất để tiêu dùng (vẫn mang tính tự cung tự cấp); kinh tế trang trại sản xuất chủ yếu để bán (mang tính chất hàng hóa rất cao) - Về qui mô sản xuất: qui mô sản xuất của kinh tế nông hộ nhỏ, trong khi đó kinh tế trang trại lớn hơn, thậm chí gấp nhiều lần kinh tế nông hộ. - Trình độ sản xuất: Trình độ sản xuất của kinh tế trang trại cao hơn kinh tế nông hộ, thể hiện qua việc cơ giới hóa trong sản xuất (phần lớn có sử dụng máy móc, kĩ thuật) - Mức độ quan hệ với thị trường: Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại chủ yếu để bán nên mức độ quan hệ với thị trường rất nhiều; Trong khi đó, tính tự cấp tự túc trong sản xuất làm giảm khả năng mở rộng quan hệ với thị trường bên ngoài của kinh tế nông hộ.
- Khả năng tích lũy tái sản xuất: Với qui mô nhỏ hơn và lợi nhuận ít hơn, khả năng tích lũy tái sản xuất của kinh tế hộ không nhiều. Ngược lại, với lợi thế hơn hẳn về diện tích và thu nhập thì khả năng tích lũy tái sản xuất của trang trại cao hơn rất nhiều.4 Tầm quan trọng của sự hình thành kinh tế trang trại 1.1 Tính tất yếu của sự hình thành kinh tế trang trại Tích tụ và tập trung sản xuất là quy luật của quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.