ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa con người đã có nhu cầu làm đẹp và đã biết làm đẹp. Ngày nay, khi xã hội phát triển, kinh tế phát triển, nhu cầu làm đẹp ngày càng tăng cao, đi đến đâu cũng có thể thấy những sản phẩm “làm đẹp” cho con người. Việc sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu mỹ phẩm đang phát triển nhanh, mạnh ở nhiều vùng miền. Mà mỹ phẩm là sản phẩm, hàng hóa có lợi nhuận cao nên việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán mỹ phẩm kém chất lượng, không an toàn là khó tránh khỏi.
Vậy nên chất lượng mỹ phẩm là một vấn đề cần phải được quan tâm bởi vì mỹ phẩm được sử dụng tiếp xúc trực tiếp với những bộ phận bên ngoài của cơ thể, không có qui định về thời gian liều lượng sử dụng, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và vẻ đẹp của cơ thể, cần có sự quản lý của nhà nước về tính an toàn của sản phẩm. Chất lượng mỹ phẩm cần phải được quan tâm bởi vì mỹ phẩm được tiếp xúc trực tiếp với cơ thể con người, không có quy định về thời gian và liều lượng sử dụng. Đặc biệt hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang nằm trong tiến trình toàn cầu hóa. Năm 2003 Chinh phủ Viêt Nam đã ký “Hiệp định hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm” và Thông tư 06/2011/TT- BYT ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y Tế .Đó là những quy định, rành buộc cần tuân thủ để có một sự hòa hợp, công nhận lẫn nhau cùng phát triển.
Quản lý chất lượng mỹ phẩm là nhiệm vụ cấp bách. Vì vậy việc đánh giá, giám sát chất lượng mỹ phẩm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống kiểm nghiệm. Nhiệm vụ chính của công tác kiểm tra chất lượng mỹ phẩm là giám sát các chỉ tiêu ảnh hưởng tới sự an toàn của mỹ phẩm, trong đó quan trong nhất là việc kiểm soát sự có mặt của các chất bị cấm. Như quy định các thành phần chất cấm, các thành phần có quy định cụ thể về giới hạn nồng độ, hàm lượng và điều kiện sử dụng trong công thức sản phẩm mỹ phẩm.
nhóm chất không được phép sử dụng trừ 1 trường hợp ngoại lệ nhưng phải tuân thủ theo các giới hạn và điều kiện quy định kèm theo. Do vậy, trong những năm qua công tác quản lý chất lượng mỹ phẩm là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Sở y tế Thái Bình nói trung và Trung tâm kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ phẩm, Thực phẩm Thái Bình nói riêng. Mặc dù trung tâm cũng đã quan tâm đến kiểm nghiệm mỹ phẩm tuy nhiên số lượng mẫu và phát hiện mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng còn rất nhỏ so với thực tế số mỹ phẩm lưu hành trên thị trường là rất lớn. Cho nên đây cũng là nổi cộm những trăn trở cho chúng tôi tiến hành đề tài này, và đây cũng là một trong những đề tài đầu tiên về mỹ phẩm.
Trước đây tại trung tâm kiểm nghiệm Thái Bình chưa có đề tài nào đánh giá các nguyên nhân chưa kiểm nghiệm được một số chỉ tiêu theo tiêu chuẩn chất lượng mỹ phẩm. Xuất phát từ thực tế kể trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích thực trạng kiểm nghiệm mỹ phẩm tại trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Thái Bình năm 2021” đề tài được thực hiện với hai mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu các mẫu mỹ phẩm đã kiểm nghiệm tại Trung tâm kiêm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Thái Bình năm 2021. Phân tích các chỉ tiêu mẫu mỹ phẩm chưa kiểm nghiệm được và nguyên nhân tại Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Thái Bình năm 2021.
Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng cao năng lực kiểm nghiệm mỹ phẩm và quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng mỹ phẩm, định hướng phát triển Trung tâm kiêm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Thái Bình trong những năm tiếp theo. Chất lượng mỹ phẩm và các quy định quản lý chất lượng mỹ phẩm 1. Một số khái niệm liên quan đến mỹ phẩm và quản lý chất lượng mỹ phẩm. Theo định nghĩa mới nhất trong Nghị định của Châu Âu và cũng là trong “Hiệp định hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm”: “Sản phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích duy nhất hoặc chính là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt”.
- Mỹ phẩm thông thường bao gồm các sản phẩm chăm sóc tóc, chăm sóc móng tay, chăm sóc da, nước hoa và trang điểm. - Mỹ phẩm chuyên dụng đặc biệt: sản phẩm chống mồ hôi, thuốc nhuộm tốc, kem chống nắng, sản phẩm uốn tóc, thuốc làm rụng lông, sản phẩm giảm béo cơ thể hay nâng ngực, chất khử mùi và chất làm trắng da; các mỹ phẩm làm trắng da và các yêu cầu giảm sắc tố da sẽ được phân loại là mỹ phẩm đặc biệt (loại chống tàn nhang). Sản phẩm mỹ phẩm rất đa dạng có thể là: - Phấn trang điểm, phấn dùng sau khi tắm, bột vệ sinh. - Xà phòng tắm, xà phòng khử mùi.
- Nước hoa, nước thơm dùng vệ sinh. - Sản phẩm dùng để tắm hoặc gội (muối, xà phòng, dầu, gel. - Sản phẩm tẩy lông. - Sản phẩm khử mùi và chống mùi.
- Sản phẩm chăm sóc tóc: nhuộm và tẩy màu tóc; uốn tóc, duỗi tóc, giữa nếp tóc; các sản phẩm định dạng tóc; sản phẩm làm sạch (sữa, bột, dầu gội); sản 3 phẩm cung cấp chất dinh dưỡng cho tóc (sữa, kem, dầu); các sản phẩm tạo kiểu tóc (sữa, keo sịt tóc, sáp). - Sản phẩm dùng cạo râu hoặc sau khi cạo râu (kem, xà phòng, sữa. - Sản phẩm trang điểm và tẩy trang dùng cho mặt và mắt. - Sản phẩm dùng cho môi.
- Sản phẩm để chăm sóc răng và miệng. - Sản phẩm dùng để chăm sóc và tô điểm cho móng tay, móng chân. - Sản phẩm dùng để vệ sinh cơ quan sinh dục ngoài. - Sản phẩm chống nắng.
- Sản phẩm làm sạm da mà không cần tắm nắng - Sản phẩm làm trắng da. - Sản phẩm chống nhăn da. - Kiểm nghiệm mỹ phẩm, nguyên liệu làm mỹ phẩm: Là việc lấy mẫu, xem xét tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến hành các thử nghiệm tương ứng và cần thiết nhằm xác định mỹ phẩm, nguyên liệu làm mỹ phẩm có đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng để quyết định việc chấp nhận hay loại bỏ mỹ phẩm, nguyên liệu làm mỹ phẩm. -Quyền hạn và trách nhiệm của người lấy mẫu được qui định tại Điều 37.
Nguyên tắc lấy mẫu được qui định tại Điều 36, về cách lấy mẫu mỹ phẩm, lượng mẫu cần lấy, cách lưu mẫu, cách lập biện bản lấy mẫu mỹ phẩm. Cụ thể như sau: - Lấy mẫu mỹ phẩm để kiểm tra hoặc giám sát chất lượng theo nguyên tắc lấy mẫu ngẫu nhiên và phải lấy mẫu ở những vị trí khác nhau của lô hàng. - Lượng mẫu cần lấy để phân tích và để lưu căn cứ vào yêu cầu kiểm tra, tiêu chuẩn chất lượng, phương pháp thử nhưng ít nhất phải đủ cho ba lần phân tích hoặc phải đủ để thực hiện phép thử đảm bảo thu được kết quả chính xác và tin cậy. - Các mẫu phân tích và mẫu lưu phải được cho vào đồ đựng, hàn kín và dán nhãn.
Nhãn của đồ đựng mẫu phải ghi rõ tên sản phẩm, tên tổ chức, cá nhân chịu 4 trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường, số lô sản xuất, hạn dùng, nơi lấy mẫu, ngày lấy mẫu. - Lập biên bản lấy mẫu mỹ phẩm theo mẫu Phụ lục số 09-MP: phải ghi rõ tên sản phẩm, số lô sản xuất, ngày lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu, ghi chép về những bất thường của quá trình lấy mẫu, tên và chữ ký của người lấy mẫu, đại diện Cơ sở được lấy mẫu, người chứng kiến (khi cần thiết). + Mẫu lấy kiểm tra( mẫu lấy ): Là mẫu do trung tâm kiểm nghiệm tới cơ sở sản xuất, kinh doanh mỹ phẩm lấy mẫu để tiến hành các phép thử, phân tích Theo tiêu chuẩn chất lượng. Mẫu lấy kiểm tra chỉ đại diện cho mỹ phẩm được lấy mẫu tại cơ sở được lấy mẫu.
+ Mẫu gửi: Là mẫu do các tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi mẫu tới Trung tâm kiểm nghiệm để phân tích, kiểm tra 1 hay tất cả các chỉ tiêu chất lượng của mỹ phẩm. Với những mẫu gửi tới kết quả kiểm nghiệm chỉ có giá trị với mẫu đem gửi, không có tính đại diện. + Mẫu mỹ phẩm: Là kí hiệu mã hóa cho mỹ phẩm được Trung tâm lấy về kiểm tra hoặc mỹ phẩm do cơ sở gửi tới. Mẫu mỹ phẩm được kí hiệu tăng dần và được chia làm 2 loại: mẫy gửi( kí hiệu:G), mẫu kiểm tra (kí hiệu: L) VD: 21G01,21G02, 21L01, 21L02… - Mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng: Là mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Mỹ phẩm giả: Là mỹ phẩm có nhãn hoặc bao bì ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối mỹ phẩm khác, giả mạo mã số đăng ký lưu hành,mã số công bố,mã số mã vạch hoặc giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp mỹ phẩm. Quy định về áp dụng Tiêu chuẩn chất lượng trong kiểm nghiệm mỹ phẩm - Các quy định của pháp luật liên quan đến đảm bảo chất lượng mỹ phẩm: 5 Đối với mỹ phẩm có số đăng ký tại Việt Nam: Là tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký và được Bộ Y tế xét duyệt. Đối với các mỹ phẩm xuất, nhập khẩu chưa có số đăng ký: căn cứ vào các tiêu chuẩn chất lượng đã được ký kết trong các hợp đồng kinh tế. - Tiêu chuẩn chất lượng mỹ phẩm, nguyên liệu làm mỹ phẩm là văn bản quy định về đặc tính kỹ thuật, bao gồm chỉ tiêu chất lượng, mức chất lượng, phương pháp kiểm nghiệm và yêu cầu quản lý khác có liên quan đến chất lượng mỹ phẩm, nguyên liệu làm mỹ phẩm(tt 11) Tiêu chuẩn chất lượng mỹ phẩm được thể hiện dưới hình thức văn bản kỹ thuật.
+ Tiêu chuẩn cơ sở: là tiêu chuẩn do cơ sở sản xuất, pha chế biên soạn, áp dụng đối với các sản phẩm do cơ sở sản xuất, pha chế.